Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ XHDS

Cùng với thực tế tồn tại và phát triển ngày càng phong phú của các tổ chức hội, tổ chức phi chính phủ (NGO), trong khoảng 10 năm trở lại đây, thuật ngữ, khái niệm “xã hội dân sự” (XHDS), tổ chức XHDS dần xuất hiện và được bàn luận khá sôi nổi ở nước ta. Đây là vấn đề xã hội, chính trị nhạy cảm, phức tạp trong tình hình hiện nay. Nhận thức về vấn đề này hiện có nhiều điểm không thống nhất, thậm chí là khác biệt, đối lập với nhau, phụ thuộc vào từng góc độ tiếp cận. Qua nghiên cứu cho thấy, có hai khuynh hướng nhận thức phổ biến về vấn đề XHDS hiện nay là: (1) Đề cao quá mức những đặc điểm của XHDS, coi đó như là một tất yếu, cần đẩy nhanh sự phát triển của XHDS ở Việt Nam; đồng nhất quá trình này với thực hiện dân chủ hóa, có thể khắc phục được những tiêu cực, phức tạp đang diễn ra trong đời sống xã hội hiện nay. (2) Coi XHDS là mô hình tiêu cực, chống đối, “đối lập” với Nhà nước xã hội chủ nghĩa, là vấn đề nhạy cảm, nên né tránh, thậm chí bài xích, phủ nhận XHDS. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi cố gắng làm rõ một số nhận thức cơ bản về XHDS.


Có nhiều cách hiểu, định nghĩa về XHDS, trong đó, một định nghĩa được cho là hợp lý hơn cả, đó là: XHDS là không gian xã hội công cộng nằm ngoài sự quản lý của nhà nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các định chế xã hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội... XHDS được nhận diện với một số đặc trưng cơ bản sau:

XHDS là một bộ phận của đời sống xã hội nằm ngoài khu vực xã hội chính trị (tức nhà nước) và xã hội kinh tế (tức thị trường) và ngoài khu vực gia đình (lĩnh vực riêng tư của cá nhân). XHDS bao gồm tổng thể các định chế xã hội (các tổ chức xã hội và các chế định điều tiết hoạt động như: luật pháp, tôn chỉ, mục đích, điều lệ...) để phân biệt với định chế xã hội chính trị (tổng hòa của các quan hệ và các thiết chế xã hội - chính trị tương ứng như: các chính đảng, các tổ chức nhà nước và cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị) và định chế xã hội kinh tế (các tổ chức kinh tế và hệ thống các chế định xã hội kinh tế tương ứng).

Các hội nhóm trá hình dưới danh nghĩa "xã hội dân sự"
Hình thức tồn tại của XHDS bao gồm: các tổ chức hội, hiệp hội, đoàn thể NGO... (gọi chung là các tố chức XHDS) và các phong trào xã hội.

Từ những nhận thức trên, rõ ràng vấn đề XHDS là hết sức phức tạp, nhạy cảm. 

Thứ nhất, những người cổ vũ cho XHDS xác định XHDS nằm ngoài các thể chế chính trị, xã hội, kinh tế, do đó có tính “độc lập” với nhà nước và không mang bản chất giai cấp. Nhưng thực chất, cái gọi là XHDS bao gồm: các tổ chức hội, hiệp hội, đoàn thể, NGO... đều mạng bản chất giai cấp, luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

Bản chất giai cấp, tính chất chính trị của XHDS, thể hiện trước hết là việc các tổ chức hội, hiệp hội, đoàn thể, NGO... cấu thành nên XHDS đều do con người - các cá nhân cụ thể lập ra và cũng bao gồm con người - các cá nhân cụ thể, với những mục đích, lợi ích khác nhau. Không có con người chung chung, phi giai cấp, nên các tố chức (hội, hiệp hội, đoàn thể...) không thể không mang bản chất giai cấp với những mục đích, lợi ích giai cấp cụ thể (tuy được che giấu). Mặt khác, XHDS chính là môi trường mà chính bản thân các thành tố cấu thành cũng diễn ra cuộc đấu tranh giai cấp trên mọi phương diện, từ chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa... mà những người cổ vũ hoặc nhân danh XHDS cho rằng đó là những ý kiến “phản biện xã hội”, để “phát huy dân chủ” nhằm che giấu ý đồ của các thế lực chống đối.

Thực tế là, các thế lực thù địch đã và đang triệt để lợi dụng, thông qua các tổ chức XHDS để thúc đẩy hình thành lực lựợng đối lập ở các nước có chế độ bị coi là “thù địch”, “độc tài”; dưới danh nghĩa “chuyển hóa dân chủ” để can thiệp, lật đổ, đưa các lực lựơng phương Tây lên nắm chính quyền ở các nước này. Nhằm thực hiện âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, các thế lực thù địch thông qua các đảng chính trị cầm quyền, các nhà nước có quan hệ với Việt Nam, cổ vũ cho các hoạt động của cái gọi là XHDS, thậm chí, được đưa ra “mặc cả” trong xử lý quan hệ với Việt Nam.

Thứ hai, XHDS vừa mang tính đa dạng về lợi ích, thành phần, vừa mang tính đa dạng, đa nguyên về tư tưởng. Đặc trưng này phản ánh tính chất phức tạp về tư tưởng, văn hóa trong đời sống XHDS. Do đó, sự hình thành của XHDS ở Việt Nam chứa đựng nguy cơ xuất hiện, hình thành hoặc du nhập những khuynh hướng tư tưởng chính trị đối lập với Đảng là tiền đề trực tiếp dẫn đến đa nguyên về chính trị.

Thứ ba, XHDS là không gian bao hàm nhiều tổ chức nhưng thiếu tính tổ chức chặt chẽ và điều kiện về tài chính để hoạt động; dễ bị các cá nhân, tổ chức có điều kiện từ bên ngoài chi phối, tác động và lợi dụng vào thực hiện các mục đích riêng, tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Tổ chức XHDS hình thành chủ yếu dựa trên những mối quan hệ và liên kết mềm, tự nguyện, tự quản, tính thống nhất không cao nên dễ xảy ra nguy cơ các tổ chức này chi chăm lo đến lợi ích cục bộ mà không quan tâm đến lợi ích chung, lợi ích toàn xã hội; tạo ra các “lệ” riêng, gây cản trở đến việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước, thậm chí có trường hợp biến tướng trở thành “công cụ” phục vụ cho lợi ích của cá nhân hoặc tổ chức chi phối, “tài trợ tài chính”. Đồng thời, XHDS bao gồm một dải rộng trên nhiều lĩnh vực, nhiều khu vực khác nhau, cả những khu vực thiếu tổ chức chặt chẽ, nhận thức chính trị mơ hồ, rất dễ bị lôi kéo, mua chuộc hoặc hùa theo các chiêu bài mị dân...

Thứ tư, một bộ phận XHDS, nhất là các hội, liên hiệp hội có tổ chức mang tính hệ thống cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang, có số lượng thành viên đông, có ảnh hưởng lớn đối với quần chúng; một số tổ chức phi chính phủ Việt Nam có sự tập hợp khá đông những trí thức lớn, có uy tín, có trình độ chuyên môn cao, kể cả đảng viên hay nguyên là cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước. Những tổ chức này có ảnh hưởng xã hội rộng lớn cả trong và ngoài nước, có khả năng tác động vào nội bộ, tác động rất mạnh đến việc xây dựng cũng như việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Các tổ chức này thường là mục tiêu tìm kiếm tác động, lợi dụng của các thế lực thù địch, nếu không có những quy định pháp lý hợp lý, đủ mạnh để quản lý, cũng như thiếu sự định hướng và quản lý có hiệu quả của các cơ quan chức năng thì rất dễ biến thái và biến thái rất nhanh thành tổ chức chính trị đối lập hết sức nguy hiểm.

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung còn thấp; ý thức công dân, ý thức pháp luật của đại đa số người dân còn nhiều hạn chế; hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, hiệu lực quản lý của chính quyền còn có mặt hạn chế, đa dạng về tôn giáo, dân tộc... Do đó, sự hình thành và phát triển của XHDS luôn tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến chia rẽ, xung đột, hỗn loạn, vô chính phủ, mất ổn định chính trị, xã hội của đất nước, là điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện âm mưu, hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, sau những thất bại trong hoạt động chống phá Việt Nam ở các giai đoạn trước, các thế lực thù địch đang xem XHDS là một hướng đi mới, đồng thời, là một trong những phương thức tác động cơ bản trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thay đổi thể chế chính trị ở nước ta. Mục tiêu của chúng là tìm mọi cách tạo “môi trường” cho sự xuất hiện ở nước ta lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua hoạt động với danh nghĩa XHDS làm suy yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch rêu rao rằng, hình thành XHDS độc lập về chính trị là một “lối thoát” cho sự ra đời công khai, hợp pháp của các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng, buộc Việt Nam phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Họ tìm mọi cách thúc đẩy ở Việt Nam một mô hình XHDS độc lập về chính trị, nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng, không chịu sự quản lý của Nhà nước, một xã hội đa nguyên về tổ chức, đa nguyên về ý thức hệ, các tổ chức được tự do thành lập, kể cả các tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam; đòi “quyển đối lập” được thừa nhận ở Việt Nam...

Để làm được điều đó, chúng đã và đang triệt để lợi dụng tính chất chính trị, xã hội phức tạp của vấn đề XHDS để tác động vào nội bộ hệ thống chính trị và các tầng lớp xã hội với nhiều phương thức khác nhau, từ tuyên truyền lừa bịp, thổi phồng “ưu điểm” của XHDS; cung cấp tài chính, phương tiện hoạt động; tổ chức việc nghiên cứu, tham quan các mô hình XHDS ở nước ngoài; thúc đẩy việc xây dựng nội dung pháp luật có liên quan... nhằm gây sức ép với Đảng, Nhà nước ta trong các quan hệ đối ngoại.

Hải Trang

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

NHÀ NƯỚC TA LUÔN TẠO ĐIỀU KIỆN CHO CÁC TÔN GIÁO ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Từ trước đến nay, đồng bào các tôn giáo Việt Nam luôn chung sống hòa hợp, đồng hành cùng dân tộc, hình thành một truyền thống tốt đẹp. “Hộ quốc an dân”, “Nước vinh, đạo sáng”, “sống phúc âm trong lòng dân tộc”… Xác định tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ là nhu cầu tinh thần không thể thiếu của nhân dân, mà trên hết, nó còn là giá trị xã hội phản chiếu khát vọng của con người hướng đến một xã hội tốt đẹp hơn, nên ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến bản Hiến pháp mới nhất năm 2013 Đảng, Nhà nước đều hiến định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Tại Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ 2.

Điều 10 Hiến pháp 1946 ghi: Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng. Có thể nói, hiến định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngay từ buổi bình minh của nước Việt Nam mới đã thể hiện rõ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chế độ xã hội tiến bộ. Không những thế, Hiến pháp 1946 còn có ý nghĩa thời đại rất lớn bởi hai năm sau 1948, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền mới nghi nhận quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo.


Tiếp theo đó, Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013 đều hiến định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 khẳng định

"1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật."
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa Hiến pháp năm 1992 và phát triển thêm một số điểm mới. Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Điều này, cho thấy chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam đối với tự do tôn giáo, tín ngưỡng, coi đó là một nhu cầu và là một quyền tất yếu của người dân cần phải được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để nhân dân thực hiện các quyền đó. Điều, Hiến pháp năm 2013 đã có sự tiến bộ hơn rất nhiều so với các bản Hiến pháp trước đó khi ghi nhận “mọi người” thay cho “công dân” có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Như vậy, bản chất vấn đề đã có sự thay đổi căn bản, thể hiện chính xác quyền con người đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo đồng thời tiếp tục khẳng định Nhà nước ta là Nhà nước thế tục, nghĩa là Nhà nước phi tôn giáo, khẳng định quyền tự do tôn giáo và nguyên tắc tách biệt giữa Nhà nước với các giáo hội, không can thiệp vào nội bộ của các tôn giáo. Sự thay đổi này hoàn toàn tương thích với Điều 18 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự - Chính trị (ICCPR) quy định về quyền tự do, bình đẳng theo hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo cũng như quyền không bị éo buộc làm tổn hại đến quyền lựa chọn một tôn giáo hoặc tín ngưỡng, đồng thời nhấn mạnh nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc tôn trọng và đảm bảo hiện thực hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.



Ở Việt Nam, phật giáo là tôn giáo có lực lượng tín đồ, chức sắc đông nhất với hơn 16 triệu người, chưa kể đến hơn một nữa dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phật giáo về văn hóa, lối sống, đạo đức, tâm lý … Đối với tôn giáo nói chung và đặc biệt là Phật giáo nói riêng, những người tu hành thường xuyên nhận được sự giúp đỡ của Nhà nước. Nối tiếp dòng chảy truyền thống gần 2000 năm, phật giáo Việt Nam sẽ tiếp tục được Đảng, Nhà nước tạo điêu kiện thuận lợi để phát triển và hoạt động. Ngay từ khi thành lập giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngày 7.11.1981, giáo hội đã xác định đường hướng hoạt động là “Đạo pháp, Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội”. Hơn 30 năm qua, thực hiện đường hướng đó, giáo hội Phật giáo Việt Nam đã cùng với các dân tộc khác thực hiện phương châm đồng hành cùng dân tộc, đóng góp vào sự phát triển chung của dân tộc. Phật giáo đã làm được nhiều việc lợi đạo, ích đời, thực hiện cứu khổ độ sinh, thông qua hoằng dương Phật pháp vận động tăng ni, phật tử cả nước sống trong chánh tín, thực hiện đúng chính sách , pháp luật của Nhà nước, làm tròn nghĩa vụ đối với công dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, tích cực tham gia các hoạt động xã hội nhân đạo, thực hiện xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới văn minh, tiến bộ … Đại lễ phật đản LHQ Vesak năm 2008 và năm 2014 được tổ chức với quy mô lớn, thành công tốt đẹp đã để lại dư âm tốt đẹp trong lòng bạn bè thế giới cho thấy sự cởi mở, hữu nghị và tôn trọng các chính sách tôn giáo của Việt Nam. Nếu xét trong dòng chảy của lịch sử, 30 thống nhất phật giáo trong một tổ chức chung thì giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phát triển vượt bậc, có thể coi đó là đỉnh cao củar phong trào phát triển Phật giáo Việt Nam. Giáo hội phật giáo có được đóng góp tích cực cho xã hội và sự phát triển như hôm nay cũng là có sự hộ trợ tích cực của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền và nhân dân trong việc cổ vũ, đảm bảo quyền tự do hoạt động tôn giáo của giáo hội.

Hiện nay, Việt Nam có gần 40 tổ chức tôn giáo đang hoạt động và mỗi tổ chức tôn giáo khi được Nhà nước công nhân tư cách pháp nhân đều xác định cho mình đường hướng tiến bộ, hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật và gắn bó tôn giáo với dân tộc. Như vậy, có thể khẳng định, các chính sách cũng như sự quan tâm, của Nhà nước đối với không chỉ Phật giáo mà tất cả các tôn giáo là rất lớn và luôn luôn nhất quán.

Điều 29 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người nhấn mạnh “Mỗi người trong khi thực hiện các quyền và tự do cá nhân chỉ phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền và tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và sự phồn vinh chung trong một xã hội dân chủ.” Khoản 3 Điều Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cũng khẳng định “Quyền tự do biểu thi tôn giáo và tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác”. Đạo luật tháng 11.2004 của Cộng hòa Pháp bổ sung các điều khoản của Hiến pháp rằng: “Không cho phép bất cứ ai lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xem bản thân mình không chịu chi phối bởi các quy định chung quản lý các mối quan hệ giữa cơ quan công quyền với công dân”. Điều 36 Hiến pháp Trung Quốc quy định “Không ai được phép dùng tôn giáo để tham gia các họa động gây rối trật tự xã hội, ảnh hưởng sức khỏe công dân, hay cản trở hệ thống giáo dục Nhà nước”. 

Như vậy, theo quan điểm của LHQ và cộng đồng quốc tế, mặc dù là một quyền cơ bản của con người, nhưng tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phả là tuyệt đối, mà là một quyền được giới hạn. Điều 14 Hiến pháp 2013 khẳng định “quyền con người, quyền công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hôi, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”. Điều 15 ghi rõ “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, công công dân không được xâm phạm đến lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Như vậy. việc giới hạn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam không trái với luật nhân quyền quốc tế cũng như pháp luật của nhiều quốc gia.

Cũng giống như ở nhiều quốc gia khác, mọi sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam được tự do hoạt động, nhưng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây là điều hoàn toàn tự nhiên và cần thiết, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của một quốc gia, dân tộc, cũng như sự phát triển hài hòa của một con người. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là một hoạt động mang tính xã hội. Thực hiện quản lý hoạt động trên cơ sở pháp luật và đặc điểm của hoạt động tôn giáo, Nhà nước tạo ra các khung pháp lý, để theo đó, người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của mình, để các tổ chức tôn giáo thực hiện các hoạt động tôn giáo của mình. Quản lý Nhà nwuocs về hoạt động tôn giáo không có nghĩa là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà chính là sự tôn trọng và đảm bảo bằng pháp luật quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Đó là một điều rất tự nhiên và hoàn toàn hợp lý về mặt tự nhiên và hoàn toàn hợp lý cả về phương diện đạo đức lẫn phương diện pháp lý, không chỉ ở Việt Nam, mà còn các nước trên thế giới. Mọi hành động tuyên truyền, kích động, cổ súy nhằm đối lập quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với thực hiện nghĩa vụ công dân, tuyệt đối hóa tự do tín ngưỡng, tôn giáo… đều đi ngược lại những giá trị đạo đức, truyền thống, thuần phong mĩ tục của dân tộc, vi phạm pháp luật của Nhà nwuocs. Rất tiếc, nhiều khi nói đến quyền con người, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay thường cố tình lãng tránh vấn đề này, chỉ thấy trách nhiệm của Nhà nước đối với cá nhân, cộng

Có thể nói rằng, nhìn chung cùng với sự phát triển của đất nước, các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được thể chế hóa tốt hơn, phù hợp với điều kiện, bản sắc văn hóa Việt Nam đồng thời, tương đồng với các tiêu chuẩn về quyền đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Hoàng Trường

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2015

VÌ SAO VÙNG GIÁO HÀ TĨNH, NGHỆ AN PHỨC TẠP?

Vì sao các vùng giáo dân ở Hà Tĩnh và Nghệ An thường thích nỗi loạn chống chính quyền. Chung quy lại cũng do dốt, thiếu công ăn việc làm, học hành không đến nơi đến chốn, ít tiếp xúc với thế giới văn minh, quanh năm bên lũy tre làng thiếu thông tin, nên thường bị các cha đạo lợi dụng độ hũng hãn này để chống đối chính quyền khi có dịp.

Giáo dân giáo xứ Đông Yên - Kỳ Anh, Hà Tĩnh chặn quốc lộ 1A gây ùn tắc kéo dài

Nếu ai đã từng sống hoặc về các vùng quê xứ đạo ở Hà tĩnh và Nghệ An sẽ thấy rõ được điều này, thường các vùng công giáo đó các cha xứ thường dạy con chiên "dùng biện pháp tránh thai là có tội" sự thiếu hiếu biết của con chiên trong vấn đề này dẫn tới sinh đẻ hàng loạt, nhà ít thì 4-5 con, nhiều thì 10-14 con.

Đẻ nhiều không đủ điều kiện cho học hành, thường đa phần quê tôi nhiều lắm học xong cấp 3 rồi ớ nhà làm ruộng, đi rừng, đông người không có việc gì làm nên dễ sinh chuyện, các cụ từng nói "nhàn cư vi bất thiện" quá không sai.

Người công giáo thôn quê họ có một niềm tin quái đán, cha xứ nói gì nghe nấy, không cần biết đúng sai. Có những trường hợp cha xứ đi buôn gỗ lậu, bị kiếm lâm bắt, lập tức trưởng họ rung chông báo động toàn giáo xứ ra giải cửu.

Sự việc đó nói lên điều gì? Chứng tỏ một điều rằng sau những năm dài sau khi nước nhà độc lập, bộ phận cha xứ muốn làm tay sai cho ngoại bang bắt đầu thực hiện ý đồ, manh nha của mình, lợi dụng sự ngu dốt mông muội của đàn chiên,c ho mưu cầu thế tục.

Quay trở lại Việt Nam trong khoảng 10 năm nay, trong các vụ việc có bóng áo đen của công giáo thì cách làm thường thấy của cộng đồng đạo này là xem thường pháp luật, “coi trời bằng vung”, bất hợp tác với chính quyền, ra mặt khiêu khích. Mặt khác, chúng sắp xếp chuẩn bị để nếu chính quyền hay người dân bất bình can thiệp thì lập tức hô hoán lên là bị đàn áp, đánh đập để lừa gạt người ngoài cả tin. Quả thực Chí Phèo làng Vũ Đại trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao cũng phải lạy bọn này làm sư phụ.

Về vai trò Vatican là một quốc gia nhưng lại đóng vai trò trung ương đầu não của hệ thống điều khiển bầy chiên ở các quốc gia khác trên thế giới. Do đó, đạo Ca-tô là công cụ lý tưởng của các thế lực thực dân phương Tây khi xưa, sen đầm quốc tế ngày nay nhằm can thiệp vào nội bộ của các quốc gia khác, đặc biệt nhóm quốc gia cựu thuộc địa, thông qua lực lượng tín đồ bản địa. Cấy được đạo Ca-tô vào dân bản xứ, liên minh phương Tây - Vatican có trong tay những tay sai đắc lực và trung thành nhất, những “con chiên có nanh” “quên mình trong vâng phục”, sẵn sàng ngoan ngoãn làm theo chỉ đạo của chủ chăn bất chấp quyền lợi dân tộc, bất chấp đạo lý, bất chấp lương tri.

Sự nổi dậy liên tiếp của Công giáo gần đây ở Việt Nam cho thấy những tín điều mới đang được đưa ra. Với công luận quốc tế và trong nước, họ nói rằng những hành động của họ là “bảo vệ nhân quyền”; nhưng với các con chiên, họ dạy rằng “sứ mệnh lớn trong thế kỷ này là phải tiêu diệt Đảng Cộng sản”. Sự thật là họ đang diễn tập cho những cuộc thánh chiến kiểu mới của thế kỷ 21. Nếu ngày xưa, những cuộc thánh chiến thời Trung Cổ mang lại cho nhà cầm quyền phương Tây rất nhiều vàng bạc, châu báu, nô lệ… thì ngày nay,các tố chức phản động lợi dụng cuộc thánh chiến mới của Công giáo Việt Nam để tụ tập đám đông làm một cuộc lật đổ chính quyền, một đám đông mà bấy lâu nau những tố chức phán động với uy tín thảm hại của mình từ lâu lắm rồi đã không thể làm được.

Linh Nguyễn 

MƯU ĐỒ BẨN THỈU CỦA TÒA THÁNH ĐẰNG SAU VỤ GIÁO XỨ ĐÔNG YÊN

Được sự hỗ trợ về chính trị của Quốc hội Mỹ khi liệt Việt Nam vào danh sách các nước cần có sự cải thiện về tự do tôn giáo một cách vô căn cứ, từ đầu năm 2015, Giám mục Nguyễn Thái Hợp, với sự đồng ý của Tòa thánh Vatican đã dùng quyền Giám mục giáo phận để đẩy đuổi hai vị linh mục quản xứ ở Nghi Kim (Nghi Lộc, Nghệ An) và Đông Yên (Kỳ Anh, Hà Tĩnh); đồng thời bỏ nhiệm người thân tín của mình là Linh mục Phêrô Hoàng Biên Cương làm quản hạt Giáo hạt Kỳ Anh (tháng 1-2015); chuẩn bị cho mưu đồ chống phá sau này. Mới đây nhất, ngày 25-11-2015, GM Nguyễn Thái Hợp thừa ủy quyền của Tổng Giám mục bề trên (Giáo tỉnh Hà Nội) đã bổ nhiệm Linh mục Phê rô Trần Đình Lai làm quản xứ Đông Yên thuộc Giáo hạt Kỳ Anh. Và chính LM Trần Đình Lai đã tiếp tục triển khai kế hoạch chống phá mà GM Nguyễn Thái Hợp và bộ sậu đã tiến hành từ năm 2013.

Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ mới ở Đông Yên có mặt Đại diện Tòa Thánh Vatican. Ảnh: Internet
Đặc điểm của đợt chống phá này là không chỉ có vấn đề tôn giáo mà bọn phản động còn lồng vào đó cả về đề Trung Quốc để kích động những người có xu hướng dân tộc cực đoan, "bài Hoa, thoát Hán" hùa theo phe của chúng.

Những hành động này không thể gọi là "tự do tôn giáo", không thể gọi là "vì tôn giáo" cũng không thể gọi là yêu nước mà thực chất là phục vụ cho mưu đồ chính trị của những thế lực phản động lợi dụng Công giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam, phá hoại công cuộc xây dựng kinh tế của đất nước. Cứ gọi hỏi Giám mục Phao lồ Nguyễn Thái Hợp, giám mục cai quản Giáo phận Vinh, Linh mục Phêrô Hoàng Biên Cương quản hạt Giáo hạt Kỳ Anh và Linh mục Phê rô Trần Đình Lai quản xứ Đông Yên thuộc Giáo hạt Kỳ Anh là ra tất.

Và như thường thấy từ trước đến nay, những cái bóng "dâm chủ" của bọn kền kền ăn xác thối đã bắt đầu xuất hiện tại Kỳ Anh, Hà Tĩnh.

P/s: Lũ cừu chỉ biết phục tùng chỉ thị, mệnh lệnh của chó chăn. Chó chăn cừu luôn làm theo lệnh của chủ chó. "Cừu" là lá, chó là cành, chủ chó là cội rễ. Nếu "cừu" là dân chống đối chính quyền với sự bao che, hỗ trợ của chó chăn & chủ chó thì đụng vào "dân" sẽ bị Mỹ tố là vi phạm "Dân - chủ (chó)".

Tâm Nguyễn 

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

ĐẤT NƯỚC DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VỀ NƯỚC

Những ai đã từng sống xa Tổ quốc nhiều năm chắc hẳn củng có niềm xúc động giống tôi khi nghe tiếng nói ấm áp của Bác Hồ: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. Tự hào biết bao khi các đây 70 năm về trước, lịch sử dân tộc Việt Nam của tôi đã bước sang trang mới, kỷ nguyên độc lập, tự do. Trong tâm khảm của tôi, dù ở xa Tổ quốc, niềm tin với đất nước, với Bác Hồ không hề thay đổi. Đồng bào sống xa Tổ quốc như tôi luôn nuôi dưỡng một niềm tin sâu sắc, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn. Thành tựu to lớn của đồng bào ở trong nước trong sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị và không ngừng nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế càng củng cố thêm niềm tự hào dân tộc và tinh thần yêu nước của chúng tôi. Đông đảo bà con mừng vui với công cuộc đổi mới và chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc do Bác Hồ khởi xướng, mong muốn đất nước cường thỉnh, nhiều người đã về thăm quê hương, tham gia đầu tư, kinh doanh, hợp tác khoa học, giáo dục, văn hóa...


Đã có rất nhiều Việt Kiều về nước và có cái nhìn khác về đất nước
Tuy nhiên, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở Mỹ, còn một bộ phận đồng bào do chưa có dịp về thăm, chứng kiến sự đổi thay tiến bộ của đất nước hoặc do thành kiến nên chưa hiểu đúng về tình hình đất nước. Thậm chí có một số ít người đã đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, ra sức chống phá đất nước từ bên ngoài. Họ lập ra một số tờ báo tiếng Việt với tiêu chí “chống Cộng”, đưa tin giật bịa đặt, bóp méo, xuyên tạc... Dưới ngòi bút của một số người tự nhận là “nhà báo hải ngoại”, họ đã dựng lên xã hội Việt Nam là một "màn đêm đen xịt", đời sống người dân như "đời chị Dậu"; quan chức thì "cường hào ác bá"...

Bản thân tôi có thời gian dài phải tiếp cận với thông tin một chiều loại này ở Mỹ, nên đã có lúc tôi cảm thấy ngờ vực vào sự lãnh đạo của Chính phủ ở Việt Nam. Những băn khoăn này tôi thường trao đổi với mọi người trong những dịp sinh hoạt cộng đồng. Chỉ một số bạn bè thân hữu nói với tôi rằng đó chỉ là sự đồn thổi, bịa đặt! Và tôi đã quyết định làm một cuộc "khám phá". Tôi trở về đất nước - nơi chôn nhau cắt rốn của tôi. Được đứng bên Quảng trường Ba Đình, nơi khí thiêng hội tụ ngàn năm, tôi đi từ địa đầu Tổ quốc Hà Giang đến cực nam đất Mũi Cà Mau, tôi cứ đi hết từ ngỡ ngàng này đến ngỡ ngàng khác. 

Đất nước tôi hôm nay hoàn toàn trái ngược với những thông tin được loan truyền trong đời sống của bà con người Việt tại Mỹ. Cảm ơn đồng bào tôi đã đứng lên từ trong hoang tàn, đổ nát, kiệt quệ vì chiến tranh liên miên do chủ nghĩa đế quốc gây ra, rồi khốn khó trăm bề do bị bao vây cấm vận, đồng bào đã xây dựng, trang hoàng lại đất nước của tôi "to đẹp hơn, đàng hoàng hơn". Tận mắt chứng kiến kết quả thực tế hết sức sinh động sau gần 30 năm thực hiện "đổi mới", đất nước nơi tôi sinh ra đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện. Cùng với tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm đạt mức khá cao ở khu vực và thế giới (GDP tăng hơn 6%), là sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, các mặt chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh được bảo đảm và ổn định. Trong đó có những thành tựu rất đáng khích lệ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội gắn bó chặt chẽ với phát triển nguồn lao động và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ... ở các vùng sâu, vùng xa nơi tôi đến, như Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Mường Nhé (Điện Biên), Bát Xát (Lào Cai), Khánh Sơn (Khánh Hòa)... đồng bào dân tộc được sự hỗ trợ của Nhà nước đã thoát nghèo, vươn lên làm 1 giàu ngay trên chính mảnh đất chỉ có những núi và núi, đá và đá của quê mình. Khó khăn vẫn còn nhiều nhưng sự đồng thuận để vượt qua cũng lớn. Xã hội học tập được xây dựng, phát triển vượt bậc. Nếu như thời điểm Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, đau xót làm sao hơn 95% dân số đất nước tôi mù chữ thì nay vui sướng biết bao khi đất nước tôi hôm nay hoàn thành tâm nguyện của Bác Hồ: “Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”, hơn 95% dân số Việt Nam biết chữ, năm 2.000 đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phấn đấu hoàn thành trước hạn Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về phổ cập giáo dục tiểu học trước nám 2015. Những đóng góp chấn hưng đất nước của mọi tầng lớp nhân dân được những người lãnh đạo đất nước nghiêm túc tiếp thu... Thành tựu đó ngày càng khẳng định Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đã và đang có rất nhiều nỗ lực, vượt qua biết bao những khó khăn, trở ngại nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đồng bào tôi ở trong và ngoài nước.

Ấy thế mà bấy lâu nay thông tin tôi nghe được là một sự dối trá bao trùm. Trong suốt một thời gian dài, tôi củng như nhiều bà con khác đã mụ mị, "sống chung” với những thông tin xấu được bịa đặt, thêu dệt và thổi phồng! Trong mỗi chúng ta, không phải ai cũng đều nhận diện ngay được chân lý và cũng không phải tất cả đều tỉnh táo. Hệ quả dẫn đến của mớ thông tin sai sự thật, có ác ý ấy không chỉ tác động đến một, hai người mà cả hàng nghìn, hàng vạn người Việt Nam ở nước ngoài như chứng tôi. Cái “sự thật giả dối” ấy đã thực sự gây ra bao cảnh đau lòng khi tham gia những cuộc biểu tình chống phá đất nước... Hơn thế nữa, cái “sự thật giả dối” ấy đã bóp méo hình ảnh của một nước Việt Nam đang đổi mới từng ngày với sự ngưỡng mộ của nhiều quốc gia khác trong đó có cả những nước trước đây là "cựu thù”, làm tổn thương tình cảm thiêng liêng của những người con đối với Tổ quốc máu thịt của mình, gây giảm sút niềm tin vào sự đổi mới, tiến bộ không ngừng của đất nước, dân tộc. Và càng trở nên nguy hiểm bởi trong khi đất nước đang cần trên dưới, trong ngoài một lòng thì lại “mắc ngay vào bẫy” của các thế lực chống lại đất nước một cách vô cùng ấu trĩ.

Tôi đã về, đã đi và đã thấy. Thành tựu của đất nước tôi hôm nay chính là câu trả lời xác đáng cho những ai đang tuyên truyền bôi đen Tổ quốc tôi. Chính vì lẽ đó, là một công dân Việt, có thể tôi và một số người ở hải ngoại, tuy số lượng chưa thật nhiều, chúng tôi phải nói lên tiếng nói chân chính, đó là sự khách quan, sự thật, phải vạch trần những thông tin giả dối đã bao trùm một thời gian dài trong đời sống của cộng đồng người Việt ở Mỹ. Niềm tin vào lẽ phải, vào chính nghĩa, vào tiền đồ, tương lai tốt đẹp của đất nước, dân tộc... tôi chỉ muốn viết ra những gì tôi được mắt thấy, tai nghe và suy nghĩ của mình, để góp một phần làm cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung, ở Mỹ nói riêng phải ghi nhận một sự thật là đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam đang thực sự đổi mới, nhân dân Việt Nam đang được thụ hưởng các quyền cơ bản của con người tốt nhất trong lịch sử Việt Nam; đồng thời cũng mong rằng, Nhà nước, đồng bào ta ở trong nước hãy tin rằng, ở nơi xa xôi, chúng tôi - những người con đất Việt, dù cho có những người, những lúc lạc nhịp do nhiều nguyên nhân... nhưng chúng tôi vẫn là một bộ phận máu thịt của "đồng bào", vẫn luôn nghĩ về một đất nước Việt Nam, là Tổ quốc, là nơi chúng tôi đặt niềm tin son sắt.

Hải Trang

THỦ PHẠM NÀO DẪN ĐẾN THẢM CẢNH LÀN SÓNG TỴ NẠN?

Những ngày qua hàng triệu người dân di cư đã ồ ạt đổ vào Châu Âu với mong muốn tìm được sự sống và cũng hàng nghìn người đã chết khi họ đã đánh cược tính mạng của mình bằng việc tìm kiếm sự sống. Khủng hoảng di cư, nhập cư cũng như làn sóng tỵ nạn chưa đến hồi kết này đang đặt các nước Châu Âu luôn trong tình trạng báo động an ninh và lãnh đạo Liên minh Châu Âu cũng như các nước liên quan đang căng hết sức mình để có thể đưa ra những biện pháp tối ưu nhất về làn sóng tỵ nạn này.

Làn sóng tị nan là kết quả của nền dân chủ giả tạocủa Mỹ và các nước Phương Tây

Hàng nghìn những bức ảnh về sự chật vật, tuyệt vọng của người tỵ nạn cố gắng thoát khỏi quê hương để tìm đến vùng đất an toàn đã được cộng đồng mạng ghi lại khiến nhiều người cảm thấy xót xa. Hình ảnh về các thi thể đã bắt đầu phân hủy của 71 người bị nhét trong một xe thùng trên biên giới Áo – Hung hay hình ảnh những người già , trẻ em bị cảnh sát các nước Châu Âu dùng súng bắn hơi cay đàn áp khi cố gắng để được vượt biên tỵ nạn hay hình ảnh hàng nghìn người giẫm đạp lên nhau để tìm lấy sự sống và cả việc cảnh sát các nước ném thức ăn cho những người tỵ nạn như những loài thú hình ảnh và hơn cả là hình ảnh về cậu bé Syria Aylan Kurdi bị trôi dạt nằm úp sấp trên bãi biển như đang “ngủ say” tại bãi biển ở Thổ Nhĩ Kỳ sau khi chiếc tàu chở gia đình em bị lật úp và chìm giữa biển. … đã phần nào cho thấy được hậu quả của cái gọi là “khủng hoảng nhân loại” này và cũng phản ánh một cách thực chất về cái gọi là thiên đường của dân chủ, nhân quyền cũng như thực trạng của việc đa nguyên, đa đảng của các nước Trung Đông cũng như các nước Châu Âu mà lâu nay một bộ phận những người tự nhận là đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam vẫn đang mơ mộng.

Dẫu biết các nước Châu Âu đều đã có những hành động cũng như cam kết để đưa ra những giải pháp tối ưu nhất đối với những người di cư, tỵ nạn thế nhưng nếu không giải quyết được vấn đề này từ gốc rễ thì thảm kịch của làn sóng di cư này sẽ còn là nỗi ám ảnh và gây ra hậu quả nghiêm trọng trong một thời gian dài đối với các nước Trung Đông cũng như các nước Châu Âu. Vậy đâu là nguyên nhân gốc rễ dẫn đến thảm cảnh làn sóng tỵ nạn thời gian qua?

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thảm cảnh di cư những ngày qua được cộng đồng thế giới đưa ra như tình trạng nghèo đói kéo dài, tình trạng bạo lực, chiến tranh bùng phát, vi phạm nhân quyền hay hậu quả của các cuộc “cách mạng màu”, mùa xuân Ả rập hay đó là do sự hoành hành của tổ chức “Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS”… Thế nhưng đâu là nguyên nhân gốc rễ, đâu là thủ phạm chính dẫn đến tình trạng nghèo đói, chiến tranh, bạo lực, vi phạm nhân quyền hay các cuộc cách mạng màu cũng như hành động tàn ác của IS để người thì hầu như ai cũng biết nhưng họ lại không dám chỉ đích danh đó là những người đứng đầu đất nước Hoa Kỳ cũng như các nước phương Tây.

Xuyên suốt theo chiều dài lịch sử những vụ việc sau để thấy rõ hơn được nguyên nhân gốc rễ của thảm cảnh di cư và tỵ nạn ở các nước Đông Âu thời gian qua.

Năm 1991, sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu bị sụp đổ thì Mỹ và các nước đồng minh đã “lừa” cho quân Iraq đưa quân chiếm Kuwait thì họ đã mở chiến dịch quân sự để đánh sập cơ bản tiềm lực quốc phòng của Iraq và thảm cảnh của một đất nước có thu nhập trung bình khá trở thành một nước nghèo cũng đã diễn ra. Sau đó không lâu vào năm 1999, Mỹ và NATO lại lấy cớ có thảm họa nhân đạo ở Bosina Herszegovina đã phát động chiến dịch công kích chống Nam Tư khiến nước này chìm trong bom đạn, chia năm sẻ bảy và thảm cảnh bị thụt xuống hàng nước cận nghèo ở Châu Âu.

Năm 2001, Mỹ và các nước đồng minh đã lấy cớ trả đũa vụ khủng bố 11-9 để phát động chiến dịch “tự do bền vững” tìm diệt bộ máy Al Qaeda ở Afghanistan khiến đất nước này vừa ra khỏi chiến tranh chưa lâu thì tiếp tục trải qua cảnh đói nghèo, điêu tàn hơn. Thâm độc hơn khi vào năm 2003, lấy cớ chính quyền Iraq tàng trữ và sử dụng vũ khí hóa học thông qua một gói bột giặt được ném lên bàn họp của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Mỹ đã phát động chiến dịch lật đổ chính quyền hợp pháp, hợp hiến ở Iraq và treo cổ tổng thống Saddam Hussen làm cho đất nước này đã nghèo đói lại càng nghèo đói hơn.

Và những năm gần đây khi nhận thấy các quốc gia Ả Rập là một bộ phận hết sức quan trọng trong mô hình phát triển kinh tế phương Tây và Mỹ. Các nước này đóng vai trò nhà cung cấp năng lượng chính cho thị trường Mỹ và Châu Âu, điều gì sẽ xảy ra nếu các nước có trữ lượng giàu mỏ khổng lồ như Iran, Syria, Lybia rơi vào sự thống trị tuyệt đối của những thế lực chính trị, chính quyền không thân Mỹ, không chấp nhận đi theo quỹ đạo của Mỹ, như chế độ Gadafi, Assad, Mahmoud Ahmadinejad xa hơn là những Hussein v.v. Và sau những cuộc lật đổ này, Mỹ dù không phải chủ sở hữu các giếng giàu Trung Đông nhưng lại trở thành kẻ kiểm soát, định giá giàu trên cơ sở tỉ giá đồng Đôla có lợi cho nền kinh tế Mỹ và một số nước phương Tây.

Vậy nên điều cốt yếu nhất đối với các nước Đông Âu cũng như Liên minh Châu Âu là họ cần phải nhìn thẳng trực diện và giải quyết vấn đề này từ gốc rễ không để Mỹ cũng như các nước đầu sỏ phương Tây can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước mình và chọn cho đất nước mình một con đường phù hợp để người dân không phải sống trong sợ hãi và bất an như vậy.

Nhìn ra những gì đang diễn ra trên thế giới để thấy mình thật hạnh phúc và bình an khi được sống trong môi trường độc lập, tự do và hòa bình của đất nước Việt Nam chúng ta. Tự hào khi được sinh ra và lớn lên ở Việt Nam!

Bồ Công Anh

GIÁO DÂN ĐÔNG YÊN ĐANG THÁCH THỨC PHÁP LUẬT!

Theo tin từ các báo, từ sáng đến tận đêm 11/12/2015, hàng trăm người dân ở Đông Yên - Kỳ Lợi - Kỳ Anh - Hà Tĩnh đã kéo ra đỉnh đèo Con chặn quốc lộ, gây ách tắc giao thông kéo dài, mất trật tự trị an, thiệt hại nhiều tỷ đồng và ảnh hưởng công việc của hàng nghìn người.


Hình ảnh giáo dân Đông Yên cản trở lưu thông trên quốc lộ 1A gây tắc đường 
Lý do đươc họ đưa ra là để "phản đối công an bắt người", trong khi đây là những đối tượng vi phạm pháp luật nước CHXHCN Việt Nam và bị công an bắt đúng các qui định, quy trình.

Trước đó, từ trong năm chính dân ở đây đã bắt giữ trái phép 4 cán bộ chiến sỹ công an khi họ đang thực thi công vụ.

Giáo xứ Đông Yên thuộc địa bàn giải phóng mặt bằng của khu công nghiệp Vũng Áng, gần 1.000 hộ dân ở đây đã chấp hành di dời, chỉ còn gần 200 hộ với gần 1.000 khẩu vẫn chây ỳ không nhận đền bù để bàn giao mặt bằng. Trong khi đó, giáo xứ đã thống nhất với chính quyền về việc vận động giáo dân, bản thân giáo xứ đã nhận đền bù và khởi công xây dựng nhà thờ mới thì nay quay ngoắt tuyên bố "việc các hộ dân là dân tự quyết với chính quyền"!!!??? Và đằng sau đó đã có những dấu hiệu rõ ràng của việc các chức sắc xúi giục, kích động giáo dân làm loạn.

Giáo dân đồng thời cũng là công dân, phải chấp hành pháp luật như mọi người. Không lẽ theo đạo thì không còn là người, không có quê hương, vô Tổ Quốc, không phải là công dân của đất nước này nên thường xuyên làm loạn như vậy?

Phát triển kinh tế là để phục vụ nhân dân. Nhưng dân phải nghèo, phải ngu thì mới dễ tin và nghe theo lời chúa (qua miệng các cha xứ), nghèo và ngu thì mới dễ lùa, dễ chăn như chăn cừu!

Vậy nên, phải chống đối các chủ trương có thể khiến cho dân giàu lên và có thể mở mang dân trí.
Từ đó, những con quạ đen mới tìm mọi cách để kích động chống đối, chúng chính là kẻ gây ra cái nghèo hèn, lạc hậu ở một số xứ đạo kia.

Chúng hoàn toàn không phải sứ giả của chúa, mà là quỷ dữ!

Bởi chúa dạy khác, như trong Tân ước, Thư gửi tín hữu Roma, chương 13 đã ghi rõ: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền… Thật thế, làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ. Anh em muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hãy làm điều thiện, và anh em sẽ được họ khen ngợi. Nhưng nếu anh em làm điều ác, thì hãy sợ… Vì lẽ đó, cần thiết phải phục tùng, không những vì sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm”.


Trong huấn từ và sứ điệp của Giáo hoàng Benedict XVI gửi Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng có đoạn viết: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em giáo dân phải chứng tỏ rằng là người công giáo tốt cũng là người công dân tốt”.

Nguồn: Facebook Hùng Ngô Mạnh