Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

Sự thật về trứng: Trứng gà ta có bổ hơn trứng gà công nghiệp? Nên ăn bao nhiêu trứng/tuần?

Nếu bạn khỏe mạnh thì ngán gì trứng? Cứ ăn lai rai, miễn là không lạm dụng trường kỳ. Chứ đâu phải cứ thấy trứng là thấy cholesterol, là thấy tim mạch, đột quỵ đâu.

PV: Tôi nghe nói, trong trứng có nhiều cholesterol có thể gây bệnh tim mạch. Thông tin này chắc chắn không phải tin vịt rồi, vì có nghiên cứu hẳn hoi, có điều chúng ta vẫn coi trứng là loại thực phẩm bổ dưỡng. Chẳng lẽ từ trước đến nay chúng ta đã hiểu nhầm về dinh dưỡng trong trứng ư? Ý kiến của ông thế nào?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Trứng có nhiều cholesterol, điều này đúng. Cholesterol có liên quan đến bệnh tim mạch, điều này đúng. Nhưng ăn trứng không có nghĩa là bị bệnh tim mạch.
Mà trứng cũng không phải là loại thực phẩm có cholesterol cao ngất ngưởng đâu. Nội tạng động vật, tim gan phèo phổi, nhất là óc heo, óc bò mới những thứ có cholesterol cao.
Tính trên 100 g thực phẩm, thì trứng (2 quả) có khoảng 372 mg cholesterol, tôm (125), mực (265), cật bò (337), gan heo (368), óc heo (2.500), óc bò (3.100).
PV: Cholesterol là chất độc có hại cho tim mạch có đầy trong những thứ liên quan đến thịt thà như thế thì biết đường nào mà tránh đây, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Cholesterol không phải là chất độc như bạn nghĩ. Trái lại, cơ thế rất cần cholesterol. Thiếu cholesterol là không được.
Cần vì cholestrol được dùng cho việc tu bổ màng tế bào, sản xuất ra các hormone và acid mật giúp tiêu hóa chất béo. Vỏ bọc tế bào thần kinh cũng cần đến cholesterol để dẫn truyền tín hiệu. Tín hiệu thần kinh lạng quạng, thì cơ thể hoạt động cũng lạng quạng.
Bạn cũng nên biết, 80% cholesterol trong cơ thể là do gan sinh ra, từ chuyên môn gọi là cholesterol nội sinh, chỉ có 20% cholesterol là do thực phẩm đưa vào.
Thực vật, rau quả củ không có cholesterol mà những người ăn chay, hoặc ăn kiêng vẫn sống khỏe đấy
Còn cholesterol do ăn uống đến từ trứng bơ sữa thịt cá,… chiếm 20%, gọi là cholesterol ngoại sinh. Nếu có ăn thừa thãi cholesterol, thì cơ thể một người bình thường sẽ tự điều hòa để có mức cholesterol ổn định trong máu.
PV: Ông nói cholesterol không phải là chất độc, nhưng tôi vẫn nghe người ta nhắc đến cholesterol xấu, cholesterol tốt đấy thôi. Cholesterol tốt thì không nói, nhưng cholesterol xấu chắc là có hại?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Chỉ có một loại cholesterol duy nhất mà thôi. Cholesterol là chất béo loại steroid, có công thức hóa học được xác định hẳn hoi.
Vì là chất béo, nên cholesterol không tan trong nước, không lưu thông trong máu được, nên phải bám chặt vào những cái "thuyền" để bơi trong máu. Những cái thuyền chở cholesterol này, khoa học gọi chung là lipoprotein.
Nhưng có nhiều loại lipoprotein, giống như có loại thuyền to, thuyền nhỏ vậy. Tùy vào cholesterol bám vào lipoprotein nào mà nó trở thành tốt hoặc xấu.
Bạn vẫn thường nghe nói, cholesterol xấu. Đó chính là LDL tên đầy đủ theo tiếng Anh là low-density lipoprotein (lipoprotein tỉ trọng thấp). Còn cholesterol tốt là HDL, viết tắt từ high-density lipoptotein (liporotein tỉ trọng cao).
Thực ra đó chỉ là cách gọi tắt thôi. LDL và HDL chính là tên gọi của loại lipoprotein chuyên chở cholesterol. Gọi đầy đủ, phải thêm chữ cholesterol đằng sau: LDL cholesterol hoặc HDL cholesterol.
Như thế, cholesterol chẳng có tội tình gì cả. Tội là do nó "trao thân gửi phận" cho cái "thuyền" nào đó thôi, nghĩa là gắn vào lipoprotein nào để chở nó đi trong máu, rồi bị gán cho là tốt hoặc xấu thôi.
Cholesterol xấu (LDL) được cho là đã để lại những mảng bựa bám vào thành mạch máu, gây nghẹt, dẫn đến bệnh tim mạch.
Còn cholesterol tốt (HDL) được cho là đã dọn sạch những mảng bựa này, chở cholesterol dư thừa về gan, làm sạch mạch máu.
Nhưng vấn đề tốt xấu của LDL và HDL vẫn còn tranh luận nhiều, ít ra là với HDL (tốt). Cao HDL trong máu chưa hẳn đã tốt, vẫn bị bệnh tim như thường.
PV: Tôi vẫn chưa hiểu cholesterol xấu gây bệnh tim mạch thế nào. Ăn thực phẩm có nhiều cholesterol thì vào máu biến thành cholesterol tốt hay xấu?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Tôi nhắc lại, 80% cholesterol trong cơ thể là do gan sản xuất, và chỉ có 20% cholesterol là lấy từ thực phẩm. Và như tôi đã nói ban nãy, cơ thể một người bình thường sẽ tự điều hòa để có mức cholesterol ổn định.
PV: Vâng, trở lại với quả trứng. Cháu nhà tôi rất thích ăn trứng. Gần như ngày nào cháu cũng đòi ăn món gì đó chế biến từ trứng gà hoặc trứng vịt. Tôi cũng hạn chế chỉ cho cháu ăn mỗi ngày 1 quả trứng, tuy vậy tôi vẫn cảm thấy lo lắng. Cho cháu ăn như vậy có phải quá nhiều cholesterol không, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Ăn trứng không chỉ là tiêu tụ cholesterol như những thực phẩm cao cholesterol khác, chẳng hạn tim gan phèo phổi bơ sữa thịt cá.
Trong lòng đỏ trứng còn có chất lecithine. Chất này giúp chuyển hóa chất béo tốt hơn, kềm hãm cholesterol đọng vào thành động mạch, và dọn dẹp sạch mạch máu (làm tăng HDL). Như vậy, ăn trứng là tiêu thụ cholesterol, được cho là bất lợi, nhưng ăn trứng cũng là tiêu thụ lecithine, được cho là tốt.
Sự thật về trứng: Trứng gà ta có bổ hơn trứng gà công nghiệp? Nên ăn bao nhiêu trứng/tuần? - Ảnh 1.
Đó là nói chuyện vòng vo suy diễn, từ trứng đến cholesterol, rồi từ choesterol đến bệnh tim mạch. Bây giờ đi thẳng vào vấn đề: Trứng có làm rủi ro bị tim mạch không?
Một nghiên cứu tổng hợp dựa trên nhiều nghiên cứu khác nhau của trường Đại học North Carolina đăng trên The American Journal of Clinical Nutrition (1) cho thấy, ăn trứng chẳng liên quan gì đến rủi ro bệnh tim mạch hay chết vì bệnh này cả, nhưng rất có thể làm tăng tỉ lệ mắc bệnh tiểu đường type 2, đồng thời rủi ro tim mạch cũng tăng với những người đã bị tiểu đường.
Một khảo cứu khác dựa trên hai nghiên cứu thống kê khá hoành tráng, với gần 40.000 quý ông và hơn 80.000 quý bà, không ai từng mắc bệnh tiểu đường, tim mạch, cholesterol cao và ung thư trên mạng JAMA (2), cũng cho kết luận tương tự.
Người khỏe mạnh ăn nhiều hơn một quả trứng mỗi ngày thì chẳng ảnh hưởng gì đến tim mạch cả, nhưng với người bị tiểu đường thì có tăng rủi ro bệnh động mạch vành. Kết luận cũng nêu, cần thêm nghiên cứu để khẳng định.
Các nghiên cứu trên, đi trực tiếp từ trứng đến rủi ro tim mạch, không qua trung gian cholesterol, đã minh oan cho trứng. Rõ ràng, cholesterol trong trứng không phải là lý do hợp lý để loại bỏ hay hạn chế ăn trứng, thấy trứng là bị cholesterol ám ảnh tim mạch, nhất là với người khỏe mạnh bình thường.
Như đã nói ban đầu, cholesterol không phải là chất độc, mà ngược rất cần thiết để tạo lập màng tế bào. Trẻ em lại đang tuổi lớn, không có lý do gì vì e ngại cholesterol mà loại bỏ trứng ra cả. Cơ thể chúng tự điều hòa được lượng cholesterol.
PV: Ông vừa nói rằng tuy chưa khẳng định, nhưng khoa học cho rằng ăn nhiều trứng "rất có thể" liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Tôi phải hiểu thông điệp này như thế nào? Thế có nghĩa là vẫn cần hạn chế ăn trứng phải không?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Không phải ăn trứng liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, mà là những người bị tiểu đường ăn nhiều trứng thì rủi ro tim mạch nhiều hơn.
An toàn thực phẩm chỉ đề cập đến những người khỏe mạnh, bình thường, ăn uống sao cho phù hợp để phòng tránh bệnh. Còn một khi đã bị bệnh, thì nên tuân thủ điều trị và hướng dẫn của bác sĩ.
PV: Tôi có chị bạn đang mang bầu. Chị ấy ăn nhiều trứng để bồi bổ sức khoẻ, ngày nào cũng ăn khoảng 2 – 3 quả trứng. Trong một lần đi khám định kỳ, bác sĩ nói kết quả xét nghiệm cho thấy chị bị mỡ máu cao và khuyên không nên ăn quá nhiều trứng. Nếu thực sự cholesterol trong trứng không gây hại thì sao bác sĩ lại khuyên như vậy, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Bị rối loạn mỡ máu thường do cholesterol nội sinh (do gan tạo ra), hơn là do cholesterol từ thực phẩm.
Tuy nhiên gan dùng acid béo, chủ yếu là loại acid béo no, có nhiều từ thịt mỡ động vật để chế tạo ra cholesterol nội sinh.
Mỡ máu cao còn liên quan đến chế độ ăn uống chưa phù hợp, chẳng hạn thiếu các loại rau cải, chứa cholin giúp chuyển hóa chất béo, kể cả do thiếu vận động.
Bị cao mỡ máu mà ăn thường xuyên 2-3 quả trứng một ngày bị bác sĩ… "khều" cho là phải rồi, còn than vãn gì nữa. Và chắc chắn bác sĩ còn thêm những lời khuyên khác để giúp hạ mỡ máu, chứ chẳng riêng gì giảm bớt ăn trứng.
Sự thật về trứng: Trứng gà ta có bổ hơn trứng gà công nghiệp? Nên ăn bao nhiêu trứng/tuần? - Ảnh 2.
(Ảnh minh họa)
PV: Thưa ông, tôi nghĩ là tôi đã hiểu được điều cơ bản nhất là cholesterol trong trứng không gây ra bệnh tim mạch ở người khoẻ mạnh bình thường. Nhân tiện nói về trứng, tôi có thể hỏi lan man một chút được không? Bà nội trợ chúng tôi có rất nhiều thắc mắc về trứng nhưng không phải lúc nào cũng có chuyên gia an toàn thực phẩm giải đáp. Ví dụ như khi chọn trứng thì chọn loại có vỏ nâu hay vỏ màu trắng thì bổ dưỡng hơn, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Màu của vỏ trứng là do giống của gà mái thôi, chứ dinh dưỡng của trứng thì tương đương nhau.
PV: Trứng gà, trứng vịt, trứng cút loại nào nhiều chất dinh dưỡng hơn?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Dinh dưỡng của trứng, protein, béo, khoáng, vitamin… tập trung ở lòng đỏ. Giữa loại trứng này và trứng khác có thể khác nhau về mặt dinh dưỡng chút ít, không đáng kể.
Nếu so sánh, ba loại trứng mà bạn vừa hỏi, thì trứng cút nhiều dinh dưỡng nhất. Trứng cút nhỏ, nên tỉ lệ lòng đỏ nhiều hơn, chiếm khoảng 50%, trong khi hai loại trứng gà và vịt chỉ khoảng 35-40%.
Trứng gà ta được cho là bổ hơn hơn gà công nghiệp cũng là do trứng to, trứng nhỏ, nghĩa là nhiều lòng đỏ hay ít lòng đỏ hơn thôi, chứ tôi không thấy đặc điểm dinh dưỡng nào nổi trội hơn.
PV: Còn trứng vịt muối, trứng vịt bắc thảo thì sao? Có bổ dưỡng hơn trứng vịt thường không?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Protein trong hột vịt muối và hột vịt bắc thảo đã bị chuyển hóa một phần rồi, nên về mức bổ dưỡng kém hơn trứng thường.
PV: Ông nói dinh dưỡng của trứng tập trung ở lòng đỏ, sao tôi thấy vận động viên thể hình lại thường ăn lòng trắng trứng, mà họ lại ăn rất nhiều mỗi ngày?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Vận động viên thể hình cần "tăng nạc giảm mỡ", nên họ phải tiêu thụ thật nhiều protein, ít béo, ít calo
Dù protein trong lòng đỏ trứng phải nói là tuyệt vời, nhưng lòng đỏ cũng còn chứa nhiều chất béo, khoảng 15%, rồi còn nhiều vitamin và khoáng nữa…Trong khi lòng trắng trứng, hầu hết chỉ là protein. Không béo, lại cung cấp năng lượng ít, nên thích hợp với nhu cầu tăng nạc giảm mỡ của vận động viên.
PV: Nhưng người ta lại nói, ăn lòng trắng trứng khó tiêu. Điều này có đúng không?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Điều này đúng, nếu bạn ăn trứng sống. Trong lòng trắng trứng sống, có chất antitrypsin cản trở sự tiêu hóa protein. Do đó ăn trứng ốp la tai tái thì khó tiêu đấy. Không những thế, ăn trứng sống kèm với protein khác như thịt, cá… cũng làm những protein này bị khó tiêu luôn.
Nếu trứng được luộc hoặc chiên kỹ thì không sao, vì chất antitrypsin này sẽ bị vô hiệu hóa.
Ngoài ra, lòng trắng trứng sống còn chưa chất avidin. Chất avidin này tạo phức với biotin, còn gọi là vitamin H, khiến cơ thể không hấp thu được vitamin H. Thiếu vitamin H tóc rụng, móng tay móng chân bị gãy đấy.
Nói chung thì không nên ăn trứng sống, hay trứng tai tái. Đó là chưa kể trứng rất dễ nhiễm salmonella gây tiêu chảy, thương hàn. Loại vi khuẩn này bị diệt khi đun nóng.
PV: Xin được hỏi ông một vấn đề... hơi liên quan đến trứng. Tôi có mẹo bóc trứng luộc rất nhanh và không bị dính vỏ là khi luộc xong thì ngâm quả trứng vào nước lạnh trước khi bóc. Nhưng rất nhiều tờ báo khuyên tuyệt đối không nên làm thế sẽ khiến cho quả trứng dễ bị nhiễm khuẩn. Thực tế thì trứng bị nhiễm khuẩn dễ dàng thế sao, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Trứng dễ nhiễm khuẩn salmonella là do khâu bảo quản ở trại nuôi gà đẻ, và lưu thông trên thị trường, còn đã luộc rồi thì lại là chuyện khác.
Trường hợp "mẹo bóc trứng luộc rất nhanh"của bạn là tùy thuộc vào nước lạnh của bạn có sạch không, tay bạn khi bóc vỏ trứng có sạch hay không thôi.
PV: Sau cùng, theo ông, có nên thường xuyên ăn trứng không? Ba quả trứng mỗi tuần?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Tôi không hiểu dựa trên cơ sở nào mà nhiều bài báo lại khuyên chỉ nên ăn 3 quả trứng mỗi tuần.
Trứng giàu protein, mà là protein xịn, giá trị sinh học tới 100, tức là ăn bao nhiêu protein của trứng vào thì sẽ biến bấy nhiêu thành protein của cơ thể, hơn cả các loại thịt cá. Đó là chưa kể còn rất nhiều loại vitamin và các khoáng vi lượng nữa.
Lòng đỏ trứng chứa khoảng 5gr chất béo, đa số là chất béo bất bão hòa, cả loại một nối đôi và nhiều nối đôi, được cho là loại chất béo tốt, góp phần vào làm giảm rủi ro bệnh tim mạch. Do đó nếu chỉ dùng ‘lý thuyết cholesterol’ để lên án trứng liên quan đến tim mạch là không… sòng phẳng
Đánh giá một loại thực phẩm lành mạnh hay ít lành mạnh phải nhìn vào mọi góc cạnh dinh dưỡng của nó. Việc săm soi vào cholesterol, rồi liên hệ đến tim mạch đã làm lãng quên những giá trị đích thực của trứng.
Nếu bị bệnh, thì nên nghe lời khuyên của bác sĩ, mà bác sĩ cũng chỉ khuyên nên hạn chế, nghĩa là ăn ít lại, chứ chẳng ai khuyên kiêng hẳn trứng, trừ những người bị dị ứng với trứng.
Nếu bạn khỏe mạnh thì ngán gì trứng? Cứ ăn lai rai, miễn là không lạm dụng trường kỳ, theo kiểu mỗi ngày vài ba quả thì hơi quá đáng. Chứ đâu phải cứ thấy trứng là thấy cholesterol, là thấy tim mạch, đột quỵ đâu.

Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, tốt nhất là đừng động tới vì có thể gây ung thư

Có rất nhiều loại thực phẩm tưởng chừng rất phổ biến nhưng có khả năng gây ung thư cao mà bạn nên để ý hạn chế dùng.
Vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở thành mối lo lắng rất lớn đối với người tiêu dùng. Mọi thực phẩm đều tiềm ẩn khả năng gây hại cho sức khỏe, đặc biệt là căn bệnh ung thư. Trong dịp Tết Nguyên Đán sắp tới, vấn đề an toàn thực phẩm càng cần được chú trọng hơn để đảm bảo sức khỏe cho bản thân và gia đình, vì vậy hãy cố gắng ăn ít hoặc tốt nhất đừng động tới những thực phẩm dưới đây.
Tôm đông lạnh
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư

Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, tốt nhất là đừng động tới vì có thể gây ung thư

Hầu hết khi mua tôm động lạnh thì người sử dụng đều không biết chính xác nó được cấp đông từ bao giờ, tại sao để lâu như vậy tôm vẫn được tươi ngon như mới. Thực tế rằng, để duy trì sự tươi ngon của tôm thì ngoài cấp đông ra thì các thương nhân đều bổ sung một số chất bảo quản khác để tôm không bị hỏng. Nếu sử dụng sẽ gây những tác động rất xấu tới sức khỏe. Tốt hơn hết hãy mua những con tôm tươi bởi chúng an toàn và giá tri dinh dưỡng cũng cao hơn.
Thực phẩm chế biến sẵn
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư
Tất cả các loại thực phẩm chế biến sẵn như xúc xich, thịt xông khói, thịt hộp... chủ yếu được chế biến bằng muối, nitrite hoặc ngâm trong nitrat. Những chất này khi vào cơ thể sẽ kết hợp với Nitrosamies tạo thành những chất gây ung thư. Ngoài ra, các sản phẩm chết biến sẵn không thể thiếu các loại gia vị như muối, đường, gia vị tăng hương vị... những thứ này để lâu hoàn toàn không tốt cho sức khỏe con người, đặc biệt là bệnh tim mạch.
Nước ép trái cây đóng hộp
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư
Nước ép trái cây đóng hộp khác với nước ép trái cây tươi, chúng chứa rất nhiều đường dễ dẫn đến tích tụ chất béo, gây cảm giác chán ăn, ảnh hưởng đến sự hấp thụ các thực phẩm khác, dễ dẫn tới béo phì. Ngoài ra, loại nước này còn có một vài các phụ gia khác như thêm đường, chất bảo quản, chất tạo màu... gây ảnh trực tiếp đến các bộ phận trong cơ thể như thận, gan và túi mật. Lời khuyên dành cho các bạn rằng hãy bớt chút thời gian để chuẩn bị cũng như tự pha chế cho mình một cốc nước ép để an toàn cũng như đảm bảo thành phần dinh dưỡng.
Trái cây, hoa quả sấy khô
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư
Những loại trái cây, hoa quả sấy khô như quả óc chó, đậu phộng và các loại đồ khô có hương vị khác chứa rất nhiều các phụ gia, chất tạo hương vị, đường, muối và đặc biệt là chất sulfur dioxide và Hydro peroxit. Các chất này khi hấp thụ vào cơ thể có thể gây ra những phản ứng tiêu cục như thở khò khè, đau đầu, buồn nôn và các triệu chứng dị ứng khác. Hãy sử dụng những loại hoa quả, trái cây tươi ngon khác trong dịp tết này để tránh những hậu quả đáng tiếc.
Bánh ngọt
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư
Các món bánh ngọt thường chứa nhiều đường cũng như hàm lượng chất béo cao hơn bình thường bởi chúng có chứa chất béo bão hòa gây béo phì, chán ăn. Vì vậy, thay vì sử dụng nó thường xuyên thì hãy đổi qua một vài thực phẩm tươi ngon khác.

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2018

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ”

Mang thai là giai đoạn rất quan trọng và thú vị đối với người phụ nữ. Nhưng có rất nhiều quan niệm sai lệch về bà bầu đang ngày càng phổ biến.

1. Cuộc sống trước và sau sinh con giống nhau

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 1

Điều quan trọng bạn cần chuẩn bị tâm lý đó là sau khi sinh đứa trẻ, cuộc sống chắc chắn sẽ thay đổi, tốt hơn hay xấu đi, điều đó tùy thuộc cảm nhận của mỗi bà mẹ. Nhưng trong những năm tháng đầu đời của con, bạn sẽ phải làm quen với những việc mới mẻ mà mình chưa từng làm như thay tã, đóng bỉm, pha sữa… Bạn sẽ phải đối mặt với sự căng thẳng khi con chậm tăng cân hoặc mẹ không đủ sữa. Nhìn chung, sự vui buồn của mẹ đều tùy thuộc vào con và bạn sẽ nhận thấy cuộc sống của mình thay đổi 180 độ sau sinh con.

2. Bà bầu nên uống ít nước trong 3 tháng cuối thai kỳ

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 2

Nhiều người vẫn truyền tai nhau rằng, các bà bầu nên uống ít nước trong 3 tháng cuối thai kỳ để tránh tình trạng chân bị xuống nước, phù nề. Các tác giả của cuốn sách “What to Expect When You’re Expecting” đã chỉ ra hiện tượng sưng phù ở phụ nữ mang thai không liên quan đến việc uống nước. Ngược lại, uống nhiều nước còn giúp giải quyết vấn đề xuống nước ở bà bầu hiệu quả.

3. Việc thoa kem chống rạn da sẽ giảm tình trạng này hiệu quả

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 3

Các loại kem chống rạn da được coi là phương pháp “cứu cánh” duy nhất và hiệu quả đối với các bà bầu để chống tình trạng rạn da. Điều bạn cần biết đó là các loại kem chống rạn da hầu như chỉ có tính chất dưỡng ẩm, đương nhiên nó cũng tốt cho độ đàn hồi của da, giúp da mịn màng hơn nhưng sẽ không thể tránh hoàn toàn khỏi tình trạng rạn da.

Di truyền cũng là yếu tố quan trọng đối với hiện tượng rạn da khi mang bầu. Nếu bà ngoại, mẹ hay dì của bạn đều bị rạn da lúc mang thai thì khả năng lớn bạn cũng sẽ không tránh được,

4. Việc căng thẳng quá mức chỉ ảnh hưởng xấu đến bà bầu

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 4

Quan niệm này là sai vì việc bị stress không có lợi cho bất kỳ ai chứ không riêng bà bầu. Tất cả chúng ra đều phải đối mặt với nhiều tình huống căng thẳng hằng ngày và điều này là hoàn toàn bình thường. Thái độ và cách xử lý của bạn khi bị stress mới là điều nên chú ý. Vì thế hãy giữ cho tâm lý thoải mái để em bé luôn khỏe mạnh nhé các mẹ bầu.

5. Ăn cá và hạt óc chó ảnh hưởng không tốt đến trí thông minh của trẻ

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 5

2 thực phẩm này đều rất tốt cho bà bầu. Hạt óc chó giàu kali và magie giúp tăng cường hệ tim mạch và có lợi cho sự phát triển hệ thần kinh của thai nhi. Trong khi đó, iot trong cá rất có lợi cho tuyến giáp. Ngoài ra, hạt óc chó và cá chứa axit béo omega-3 tốt cho sự phát triển của bộ não ở trẻ. Do đó, bà bầu nên tích cực tiêu thụ 2 loại thực phẩm này.

6. Phụ nữ mang thai không nên sơn móng tay, nhuộm tóc

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 6

Bà bầu không nhất thiết phải tránh hoàn toàn việc sơn móng và nhuộm tóc. Điều quan trọng hơn bạn cần chú ý đó là các thành phần của chúng. Ví dụ, bà bầu nên tránh các thành phần như toluene, formaldehyde, camphor, amoniac, hoặc resorcinol khi chọn sơn móng tay hoặc thuốc nhuộm. Các sản phẩm cao cấp không chứa chất nguy hiểm cho phụ nữ mang thai cũng là lựa chọn phù hợp.

7. Quan hệ tình dục trong thời gian mang bầu không tốt cho thai nhi

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 7

Đây là một trong những quan niệm sai lầm nhưng lại phổ biến nhất từ trước đến nay. Nhiều người cho rằng việc quan hệ tình dục sẽ gây hại cho đứa trẻ, khiến mẹ bầu khó chịu. Nhưng bạn chỉ cần kiêng quan hệ trong 3 tháng đầu thai kỳ và sau đó, nếu bà bầu không cảm thấy bất tiện thì vẫn có thể quan hệ bình thường. Thậm chí, quan hệ tình dục đều đặn còn có lợi cho phụ nữ mang thai vì nó tăng cảm xúc thăng hoa, giúp tinh thần của bà bầu càng thêm thoải mái.

8. Bà bầu không nên tập thể dục trong thời gian mang thai

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 8

Nếu không gặp bất kỳ vấn đề nào về sức khỏe trong thai kỳ thì việc tập thể dục thường xuyên sẽ rất có lợi cho mẹ và bé. Tuy vậy, bạn nên cân nhắc các bài tập nhẹ nhàng và phù hợp với bà bầu. Việc vận động không chỉ giúp bạn thêm khỏe mạnh, có lợi cho sự phát triển của thai nhi mà giúp quá trình sinh nở thuận lợi hơn. Nhưng hãy nhớ tham khảo ý kiến của bác sĩ và chuyên gia trước khi hoạt động thể chất nhé các bà bầu.

9. Bà bầu nào cũng thèm đồ chua

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 9

Việc thèm đồ ăn chua hay ngọt hay bất cứ loại thức ăn nào phụ thuộc vào sự thay đổi nội tiết tố của từng cơ thể. 
Có một số phụ nữ mang thai thích ăn các loại hoa quả chua, một số khác thích ăn đồ ngọt như socola thậm chí một số khác lại thích ăn mặn. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sự thay đổi và nhu cầu của mỗi cơ thể, nên không phải bà bầu nào cũng thèm chung một loại đồ ăn thức uống như nhau.

10. Phụ nữ nên sinh con đầu lòng trước 30 tuổi

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 10

Đây cũng là một quan điểm sai lệch. Nếu phụ nữ tuổi 30 chăm sóc bản thân theo chế độ tốt như ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên và kiểm tra sức khỏe định kỳ thì khi mang thai cũng sẽ không khác nhiều so với phụ nữ bầu bí ở tuổi 20. Các bệnh lý của thai nhi và những vấn đề phát sinh trong quá trình mang bầu chủ yếu liên quan đến tình trạng sức khỏe của mẹ và do gen di truyền. Các phương pháp y tế hiện đại có thể chẩn đoán được sự sai lệch trong quá trình phát triển của thai nhi rất sớm nên phụ nữ mang thai con đầu lòng ở tuổi 30 không có gì phải lo ngại.

Nói như vậy cũng không có nghĩa là bạn sinh con càng muộn càng tốt. Các bác sĩ cho rằng thời gian sinh con lý tưởng cho phụ nữ là 20-30 tuổi. Và theo nghiên cứu của tiến sĩ John Mirwoski đến từ Texas, Mỹ, độ tuổi hoàn hảo để bà mẹ sinh được đứa con khỏe mạnh là 34 tuổi.

11. Việc siêu âm không tốt cho thai nhi

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 11

Các bác sĩ khuyến cáo rằng, một bà bầu nên siêu âm ít nhất 3 lần trong suốt thai kỳ. Việc kiểm tra thường xuyên sức khỏe của mẹ và em bé đều rất quan trọng. Việc sử dụng âm thanh tần số cao để cho ra hình ảnh siêu âm hoàn toàn không giống như chụp X quang vì không có bức xạ ion hóa. Nhờ việc siêu âm, bác sĩ có thể biết được tình trạng mang thai ngoài tử cung hoặc những bệnh lý, sự phát triển không bình thường của thai nhi, từ đó có phương pháp kịp thời.

12. Việc mang thai khiến bà bầu làm việc kém hiệu quả

13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 12

Sự thay đổi hormone thường khiến bà bầu nhạy cảm và dễ “bùng cháy” hơn trong thời kỳ mang bầu hoặc một số người bỗng trở nên thành thục hoặc giỏi hơn ở một khía cạnh nào đó. Ví dụ, nhiều phụ nữ khi mang thai bỗng vẽ đẹp hơn, số khác lại có khả năng viết lách giỏi hơn hoặc nhiều người thấy mình nhạy bén hơn khi kinh doanh. Như vậy, nếu sức khỏe bạn bình thường thì rất có thể bạn sẽ làm việc hiệu quả hơn khi mang bầu.

Bên cạnh đó, các mẹ bầu thường mắc chứng “momnesia” (mất trí nhớ). Não bộ của phụ nữ sẽ thay đổi trong vòng 2 năm từ lúc mang bầu vì chất xám bị giảm xuống. Do đó, bạn nên chuẩn bị trước tinh thần cho tình trạng “nhớ nhớ quên quên” từ lúc bắt đầu có em bé và hãy luôn lạc quan nhé.

13. Bà bầu nên ăn nhiều cho 2 người
13 quan niệm sai lầm khi mang bầu ai cũng tin “sái cổ” - 13

Các nhà dinh dưỡng học của Viện Y học Hoa Kỳ công bố thông tin: một phụ nữ có sức khỏe bình thường, cân nặng ổn định thì không cần tiêu thụ thêm quá nhiều đồ ăn trong 3 tháng đầu thai kỳ. Những chuyên gia này khuyên bà bầu nên bổ sung thêm 340 calo mỗi ngày trong 3 tháng giữa thai kỳ và thêm 450 calo với 3 tháng cuối của thai kỳ. Lượng calo nạp thêm này có thể được bổ sung bằng cách uống sữa, ăn các loại hạt hoặc thịt. Vì vậy, các bà bầu nên tập trung và đồ ăn có chất hơn là lượng.

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày!

Bánh mì là bữa sáng, món ăn phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, nó lại không phải là loại thực phẩm hoàn toàn có lợi đối với sức khỏe. Dưới đây là những lý do bạn không nên ăn quá nhiều bánh mì.

1. Không có nhiều chất dinh dưỡng

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 1

Không giống như các loại thực phẩm khác, bánh mì (đặc biệt là bánh mì trắng) và các sản phẩm chế biến từ bánh mì có thể đáp ứng nhu cầu khi đói nhưng không cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Thường xuyên ăn bánh mì có thể dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ em.

Chính vì vậy, không nên lạm dụng loại thực phẩm này thường xuyên và trong thời gian dài. Nếu yêu thích bánh mì, bạn nên lựa chọn các loại bánh chế biến từ bột mì hoặc ngũ cốc để có hàm lượng dinh dưỡng nhiều hơn.

2. Tăng đường huyết

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 2

Bánh mì được làm từ bột ngũ cốc, cơ thể tiêu hóa và chuyển hóa nhanh chóng thành glucose trong máu, kích thích sản xuất các hormone béo insulin. Thậm chí, bánh mì còn có chỉ số đường huyết GI cao hơn so với các loại kẹo ngọt. Lượng đường trong máu tăng giảm liên tục có thể khiến bạn cảm thấy đói nhanh chóng. Điều này tiếp tục gây ra một chu kỳ ăn thường xuyên, dẫn tới tình trạng béo phì, tăng cân mất kiểm soát.

3. Chứa nhiều muối

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 3

Hầu hết bánh mì đều chứa rất nhiều muối, đặc biệt khi kết hợp cùng nhiều thực phẩm khác. Bạn ăn các loại bánh mì này đồng nghĩa với việc bạn đang nạp vào cơ thể một lượng muối quá mức cho phép.

4. Tăng cân

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 4

Nếu bạn ăn quá nhiều bánh mì, tất cả tinh bột, muối, đường tinh chế và chất bảo quản có trong bánh có thể gây béo phì. Vì vậy, nên ăn ở mức độ vừa phải.

5. Khó tiêu hóa

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 5

Gluten trong bánh mì khó tiêu hóa, gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như táo bón, rối loạn tiêu hóa nếu ăn thường xuyên, đặc biệt ở người già và trẻ em.

6. Gây mệt mỏi

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 6

Bánh mì có chứa các chất protein biến đổi gene, gây ra các triệu chứng mệt mỏi liên tục. Các nhà khoa học cho biết việc sử dụng bánh mì trắng thường xuyên dẫn đến thiếu chất xơ trong cơ thể, ảnh hưởng hoạt động bình thưởng của não bộ.

Thứ Bảy, 27 tháng 1, 2018

5 cách cực hay để loại bỏ vấn đề mà dân văn phòng nào cũng mắc phải

Kéo căng, thư giãn, làm ấm lưng, chườm túi nóng/lạnh là một trong những cách giúp làm giảm đau lưng hiệu quả mà không phải ai cũng biết.
Kéo căng và thư giãn
Kéo căng các cơ, thư giãn cũng như tập thể dục thường xuyên giúp giải phóng endorphin vào não của bạn. Điều này tạo ra cảm giác hạnh phúc, giảm căng thẳng trong cơ thể cũng như giảm đau lưng hiệu quả.
5 cách cực hay để loại bỏ vấn đề mà dân văn phòng nào cũng mắc phải
Giữ chân ấm
Một số căn bệnh như bệnh viêm phúc mạc cũng dẫn đến đau lưng và bạn không nên chườm nóng vùng lưng vì chườm nóng lúc này có thể lưng đau hơn. Để tránh tình trạng này bạn nên giữ ấm bàn chân và đến gặp bác sỹ để khám chữa bệnh.
5 cách cực hay để loại bỏ vấn đề mà dân văn phòng nào cũng mắc phải
Chườm nóng hoặc lạnh
Khi cơn đau lưng xuất hiện trong 48 giờ đầu tiên, bạn nên dùng túi chườm lạnh để giảm đau. Nhưng sau 48 giờ, bạn nên chườm nóng. Hãy nhớ nhấc túi chườm ra một lúc trước khi chườm tiếp chứ không nên chườm liên tục.
5 cách cực hay để loại bỏ vấn đề mà dân văn phòng nào cũng mắc phải
Thay đổi thói quen ngủ của bạn.
Nằm ngủ trên đệm kém chất lượng có thể gây đau lưng vì vậy bạn nên thay đổi đệm cũng như tư thế ngủ để cảm thấy ổn hơn. Ngoài ra, bạn có thể chèn thêm một chiếc gối ở giữa 2 đầu gối hoặc dưới đùi để giảm đau lưng hiệu quả.
5 cách cực hay để loại bỏ vấn đề mà dân văn phòng nào cũng mắc phải
Tập yoga
Trong nhiều trường hợp, đau lưng là do căng cơ, đau cơ. Tập yoga sẽ là cách tuyệt hay để giúp bạn giảm căng cơ, tăng cường sự mềm dẻo, linh hoạt cho cơ thể. Yoga cũng giúp bạn giảm căng thẳng và cảm thấy thư giãn.
5 cách cực hay để loại bỏ vấn đề mà dân văn phòng nào cũng mắc phải
Xoa bóp gân kheo
Đôi khi, gân kheo bị kéo căng cũng là khuyên nhân gây đau vùng lưng dưới và khớp háng. Vì vậy, bạn nên xoa bóp gân kheo nhiều lần trong ngày để giảm đau lưng hiệu quả.
5 cách cực hay để loại bỏ vấn đề mà dân văn phòng nào cũng mắc phải
Giảm hoặc bỏ thuốc lá
Hút thuốc không chỉ ảnh hưởng đến phổi, máu, làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư mà còn gây co thắt mạch máu khiến lượng máu chảy và mô mềm của bạn giảm đáng kể, gây đau lưng.  
5 cách cực hay để loại bỏ vấn đề mà dân văn phòng nào cũng mắc phải

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2018

Cô gái bỗng dưng liệt nửa mặt, méo miệng vì để tóc ướt khi ngủ

Mới đây, một cô gái 23 tuổi, đến từ Trung Quốc phải nhập viện trong tình trạng liệt nửa người và miệng bị méo do đi ngủ khi tóc còn đang ướt.
Trang China Times đưa tin, cô gái Xiong, sống ở Vũ Hán (Trung Quốc), năm nay 32 tuổi đã bị chứng liệt nửa mặt và méo miệng do đi ngủ trong tình trạng tóc còn ướt.
Xiong hiện đang làm việc trong một trung tâm mua sắm. Do công việc và cuộc sống thường ngày quá bận rộn nên cô thường đi ngủ sau khi vừa tắm gội xong.
Vào một buổi sáng như mọi ngày, Xiong thức dậy và bàng hoàng phát hiện một nửa mặt bên trái của mình bị tê liệt, không thể cử động được. Khi đi đánh răng, qua gương cô còn thấy phần miệng bị méo giống như người đột quỵ.
Quá hoảng sợ và lo lắng, Xiong đã nhanh chóng đến bệnh viện thăm khám. Tại đây, bác sĩ chuyên khoa đã kết luận cô bị méo miệng, liệt nửa mặt là do thói quen đi ngủ khi tóc còn ướt mà cô vẫn thường mắc phải mỗi tối. Theo lời giải thích của bác sĩ thì tình trạng tê liệt này xuất phát từ sự thay đổi nhiệt độ đột ngột bên trong cơ thể khi mái tóc còn đang ướt. Vào ban đêm, sức đề kháng suy giảm, nhưng mớ tóc ẩm nhiều giờ khi ngủ đã kích thích các dây thần kinh vùng mang tai, gây co giật cục bộ, máu không cung cấp đủ cho các dây thần kinh mặt, dẫn đến méo mặt.

May mắn thay, sau 10 ngày điều trị bằng nhiều phương pháp, Xiong đã hồi phục khuôn mặt và trở lại bình thường.
Trường hợp của Xiong cũng là lời nhắc nhở cho những người có thói quen gội đầu muộn và để tóc ướt mà không sấy khô tóc hoàn toàn trước khi ngủ.
Related image
Thói quen này từ lâu đã được nhiều chuyên gia cảnh báo là không hề tốt cho sức khỏe. Đi ngủ ngay khi tóc còn ướt có thể gây chứng méo miệng, liệt mặt, đau đầu kinh niên, cảm lạnh, cảm cúm, nấm da đầu... nguy hiểm hơn còn có thể dẫn đến tử vong ngay trong đêm.
Các bác sĩ cũng cho biết thêm, những đối tượng sau sẽ có nguy cơ mắc bệnh liệt nửa mặt, méo miệng cao hơn người bình thường:
- Những người hay bị viêm đường tiêu hóa, dị ứng
- Người hay thức khuya, mệt mỏi
- Người có sức đề kháng kém, hay bị cảm cúm
- Người thần kinh hay căng thẳng, sa sút tinh thần
- Những người bị bệnh tim mạch… dễ rơi vào trạng thái ức chế quá mức vì lạnh... dẫn tới sự gia tăng gốc tự do, làm hủy hoại dây thần kinh số 7.
Các chuyên cũng khuyến cáo, để đảm bảo sức khỏe, bạn không nên gội đầu qúa khuya. Nếu hay gội đầu vào buổi tối, bạn cần sấy tóc hoặc để chúng thật khô trước khi đi ngủ. Tuyệt đối không gội đầu sau 11 giờ đêm, nhất là vào những ngày trời lạnh. Những ngày rét buốt, dù gội bằng nước nóng cũng khiến các tĩnh mạch giãn ra, hạ huyết áp dễ xuất hiện hiện tượng thiếu máu não, nghiêm trọng có thể dẫn đến hôn mê.

Do đó, dù có bận rộn và mệt mỏi đến mấy thì chúng ta cũng nên cố gắng làm khô tóc hoàn toàn rồi mới vào giấc ngủ nhé.

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

Bí mật dinh dưỡng và cách ăn trứng gà tốt nhất nhiều người chưa biết

Chuyên gia cho rằng, chúng ta ăn trứng nhưng chưa hiểu nhiều về cách chế biến trứng, thông tin dinh dưỡng và những bí mật để sử dụng trứng gà đúng cách. Đây là điều bạn nên biết.

Có rất nhiều cách để ăn trứng gà, nhưng bạn vẫn băn khoăn tự hỏi, cách ăn nào là tốt nhất, lòng đỏ hay lòng trắng tốt hơn, nên ăn bao nhiêu trứng là đủ, chế biến thế nào có thể giữ lại dinh dưỡng nhiều nhất…?
Kết quả hình ảnh cho trứng gà
Sau đây là những câu trả lời từ các chuyên gia giúp bạn hiểu rõ hơn về trứng gà.
Cách chế biến trứng nào để có nhiều dinh dưỡng nhất?
Căn cứ vào sự hấp thụ chất dinh dưỡng và khả năng tiêu hóa sau khi ăn trứng cho thấy, Trứng luộc (nguyên vỏ) tỉ lệ là 99%.
Trứng hấp (đã bỏ vỏ) là 97%, nhiệt độ nấu ở mức thấp, nhưng các chất riboflavin, lutein và các vitamin tan trong nước khác sẽ giảm.
Trứng rán non lửa là 98%: Nhiệt độ đun nấu thấp hơn, nhưng đã có một sự mất mát nhẹ các chất vitamin tan trong nước.
Trứng chiên già lửa 81,1%: Nhiệt độ nấu cao, vitamin A, D, E, K và các vitamin tan trong dầu mỡ và vitamin tan trong nước đã mất.
Trứng nấu với sữa hoặc nước là 92,5%
Ăn trứng sống là 30 - 50%.
Từ những phân tích trên đây, có thể khẳng định, ăn trứng luộc là có tỉ lệ hấp thụ dinh dưỡng cao nhất. Nhưng cần lưu ý rằng, trứng cần luộc đúng độ, vừa chín tới, ăn chậm nhai kỹ và nuốt từ từ thì tiêu hoá sẽ tốt hơn. Trứng luộc cũng được xem là cách ăn tốt nhất cho người bệnh tim mạch.
Tại sao thời gian luộc trứng khác nhau liên quan đến quá trình tiêu hoá?
Cách chính xác để luộc trứng là cho nước lạnh vào nồi, rửa sạch trứng rồi luộc lửa nhỏ cho nước nóng dần lên, sau khi nước sôi thì đun tiếp lửa nhỏ trong 2 phút, tắt bếp và tiếp tục ngâm trứng trong nồi thêm 5 phút.
Cách luộc trứng này sẽ làm cho quả trứng luộc xong có cảm giác chín mềm, thịt trứng chắc nhưng không bị cứng.
Thời gian luộc trứng dài ngắn khác nhau sau khi ăn vào cơ thể sẽ có thời gian tiêu hoá tương ứng khác nhau, điều này nhiều người chưa biết.
Ví dụ, nếu luộc trứng trong 3 phút, là trứng tái, khi ăn sẽ dễ tiêu hoá nhất, khoảng 90 phút sau sẽ tiêu hoá xong.
Luộc trứng trong 5 phút, là trứng gần chín, cơ thể sẽ mất khoảng 2 tiếng để tiêu hoá.
Luộc trứng chín kỹ, sẽ mất khoảng 3 giờ 15 phút để cơ thể tiêu hoá.
Trứng luộc trong 5 phút, không chỉ mềm mượt, mùi vị thơm đậm đặc trưng, mà còn giúp cho cơ thể dễ hấp thụ dinh dưỡng nhất.
Một nghiên cứu tại Mỹ từng công bố kết luận, 24 người tham gia thí nghiệm mỗi ngày ăn 2 quả trứng luộc chín non (chưa chín hẳn) sau 6 tuần thì mỡ máu không tăng lên, làm cho chất Cholesterol tốt (HDL) trong máu tăng lên 10%.
Chuyên gia tiết lộ: Bí mật dinh dưỡng và cách ăn trứng  gà tốt nhất nhiều người chưa biết - Ảnh 3.
Ăn bao nhiêu trứng một ngày là tốt nhất?
Trứng là thực phẩm có hàm lượng protein cao, nếu ăn quá nhiều có thể dẫn đến sự gia tăng gánh nặng cho quá trình trao đổi chất, từ đó làm tăng gánh nặng cho thận. Vì vậy, nhóm người cao tuổi và trẻ em thì nên ăn mỗi ngày 1 quả. Còn thanh thiếu niên hoặc người lớn thì có thể ăn tối đa là 2 quả.
Trứng vốn là một món ăn giàu chất dinh dưỡng, điều này thì hầu hết mọi người đều đã biết. Trứng gà được gọi với những cái tên nổi bật như "món ăn sáng giàu dinh dưỡng nhất thế giới", "kho dinh dưỡng lý tưởng", "nguồn protein tốt nhất"…
Protein quan trọng nhất chỉ nằm trong lòng trắng trứng
Một quả trứng chỉ gồm lòng đỏ và lòng trắng, nhưng thực tế có 2 luồng ý kiến trái ngược khi ăn trứng. Một nhóm cho rằng, chỉ có lòng đỏ trứng mới giàu dinh dưỡng, nên khi ăn thường chọn lòng đỏ, bỏ đi lòng trắng (ví dụ như ăn trứng chần). Nhóm người khác vì lý do sợ béo, lại chỉ ăn lòng trắng mà không ăn lòng đỏ. Vậy rốt cuộc thì lòng trắng tốt hay lòng đỏ tốt?
Theo giáo sư Trình Nghĩa Dũng, Hội trưởng Hiệp hội Dinh dưỡng Trung Quốc cho rằng, lòng trắng và lòng đỏ đều có những ưu điểm riêng, thành phần dinh dưỡng cũng có sự khác biệt.
Lòng trắng trứng ngoài 90% là nước ra, còn lại khoảng 10% là protein. Nhưng bạn đừng nên xem nhẹ con số 10% này, vì đa số protein chứa trong trứng đều nằm ở lòng trắng.
Theo giáo sư Lận Tân Anh, Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm Sơn Đông (TQ), chất protein trong trứng gà được xem là quý như nguồn sữa mẹ thứ 2 trong thế giới thực phẩm, có tỉ lệ hấp thụ và sử dụng rất cao khi vào cơ thể, là một trong những chất protein giá trị nhất trong chuỗi thức ăn cho con người.
Giáo sư Trình Nghĩa Dũng cũng nhấn mạnh, những người có thể chất yếu ớt như người cao tuổi, trẻ em, bệnh nhân sau phẫu thuật, tốt nhất là nên ăn bổ sung lòng trắng trứng gà để cải thiện sức khoẻ.
Sự đa dạng dinh dưỡng của lòng đỏ
So với lòng trứng trắng, dinh dưỡng của lòng đỏ trứng phức tạp hơn nhiều. Tất cả chất béo của trứng đều tập trung trong lòng đỏ trứng, nhưng chủ yếu có lợi cho chất axit béo của con người. Bên cạnh đó, lòng đỏ cũng chứa thành phần axit oleic – một thành phần chính của dầu ô liu, có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa bệnh tim.
Ngoài ra, vitamin A, D, E, K, phốt pho, sắt và khoáng chất khác cũng chủ yếu nằm trong lòng đỏ trứng, mặc dù tỷ lệ hấp thu sắt là tương đối thấp, nhưng đối với nhóm trẻ nhỏ chưa ăn được thịt hoặc ăn ít thịt thì đây cũng là một nguồn thực phẩm để bổ sung sắt quan trọng.
Bên cạnh đó, lòng đỏ trứng còn có một chất rất quan trọng - lecithin, đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển của não, cũng như có tác dụng làm giảm cholesterol.
Màu sắc của lòng đỏ còn chứa những bí mật dinh dưỡng khác như chất riboflavin để ngăn ngừa nứt miệng, cũng như lutein và zeaxanthin để bảo vệ mắt. Thông thường, màu sắc lòng đỏ càng sẫm thì hàm lượng vitamin càng cao.
Giáo sư Dũng nói, một số người lo sợ trong lòng đỏ trứng chứa nhiều cholesterol, nhưng trên thực tế, điều này rất sai lầm.
Người cao tuổi nếu có mức cholesterol huyết thanh quá thấp, có thể gây ra khả năng miễn dịch thấp, sức mạnh của mạch máu cũng sẽ bị ảnh hưởng, không có lợi cho sức khỏe tim mạch. Vì vậy, người bình thường nếu ăn một hoặc hai lòng đỏ trứng một ngày sẽ rất khỏe mạnh. Còn đối với những người có chứng mỡ máu cao, nên ăn nửa quả trứng mỗi ngày sẽ thích hợp hơn.
Theo phó giáo sư dinh dưỡng và thực phẩm Phạm Chí Hồng, Học viện thực phẩm, Đại học Nông nghiệp Trung Quốc, cách chế biến trứng quyết định chất lượng dinh dưỡng trong trứng mà cơ thể có thể hấp thụ được.
Chuyên gia tiết lộ: Bí mật dinh dưỡng và cách ăn trứng  gà tốt nhất nhiều người chưa biết - Ảnh 4.
Vì sao luộc trứng xong lại nên để trong nồi ngâm thêm 5 phút? Cách chế biến quyết định giá trị dinh dưỡng
Theo phó giáo sư Hồng, nếu chỉ biết cách nấu trứng thế nào tốt nhất, mà không học cách thao tác chế biến sao cho đúng, thì lại là một thiếu sót.
Nấu không đúng, không những khiến cho cảm giác ăn không ngon, mà còn ảnh hưởng đến việc hấp thụ dinh dưỡng, thậm chí còn tạo ra những chất độc hại trong quá trình chế biến.
Luộc trứng
Rửa trứng sạch và cho vào nồi nước lạnh, đun lửa nhỏ tăng dần cho nước nóng lên. Sau khi nước sôi tiếp tục đun 3 phút, tắt lửa, ngâm trứng trong nồi tiếp tục thêm 5 phút. Cách luộc này sẽ khiến cho lòng trắng chín mềm, lòng đỏ chín vừa tới và thành khuôn, không bị lòng đào, chất protein biến tính vừa ở mức tối ưu nhất, dễ dàng hấp thụ nhất.
Nếu thời gian luộc trứng vượt quá 10 phút, không chỉ làm cho món ăn mất hương vị, mà còn làm thất thoát vitamin, chất đạm cũng trở nên khó tiêu hoá.
Ốp trứng
Khi dầu nóng lên, đập trứng vào thì cần chuyển lửa nhỏ lại để nấu. Trứng có thể nấu cùng cà chua, rau xanh sẽ có vị ngọt nếu thêm chút rượu, quả kỷ tử…
Nấu canh trứng
Không nên cho thêm muối hoặc dầu khi đánh trứng, như vậy sẽ dễ làm cho trứng bị thay đổi kết cấu, làm tổn thất chất kết dính trong trứng, món canh nấu xong sẽ có cảm giác thô và cứng.
Không nên quấy đánh trứng với lực quá mạnh. Chỉ cần khuấy nhẹ ít cái cho có cảm giác trứng tan đều ra là đổ trực tiếp vào nồi canh. Ngoài ra, khi nấu canh trứng có thể cho thêm ít sữa, sẽ làm cho món ăn trở nêm mềm mại và trơn mượt hơn, chất dinh dưỡng của món canh phong phú hơn.
Rán trứng
Nên rán với lượng dầu mỡ vừa phải, dùng lửa ở mức vừa, nên cuộn trứng cho dày lại khi rán thì sẽ giữ được lượng dinh dưỡng tốt hơn.
Xào trứng
Xào trứng thì nên nấu lửa vừa, không nên bật lửa to, nếu không sẽ thất thoát hết chất dinh dưỡng, đồng thời làm cho trứng bị cứng. Nhưng cũng không nên nấu lửa nhỏ, vì thời gian dài sẽ khiến trứng bị mất nước, sẽ làm cho món ăn bị khô, ảnh hưởng đến khẩu vị.