Hiển thị các bài đăng có nhãn Thực phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thực phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

Sự thật về trứng: Trứng gà ta có bổ hơn trứng gà công nghiệp? Nên ăn bao nhiêu trứng/tuần?

Nếu bạn khỏe mạnh thì ngán gì trứng? Cứ ăn lai rai, miễn là không lạm dụng trường kỳ. Chứ đâu phải cứ thấy trứng là thấy cholesterol, là thấy tim mạch, đột quỵ đâu.

PV: Tôi nghe nói, trong trứng có nhiều cholesterol có thể gây bệnh tim mạch. Thông tin này chắc chắn không phải tin vịt rồi, vì có nghiên cứu hẳn hoi, có điều chúng ta vẫn coi trứng là loại thực phẩm bổ dưỡng. Chẳng lẽ từ trước đến nay chúng ta đã hiểu nhầm về dinh dưỡng trong trứng ư? Ý kiến của ông thế nào?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Trứng có nhiều cholesterol, điều này đúng. Cholesterol có liên quan đến bệnh tim mạch, điều này đúng. Nhưng ăn trứng không có nghĩa là bị bệnh tim mạch.
Mà trứng cũng không phải là loại thực phẩm có cholesterol cao ngất ngưởng đâu. Nội tạng động vật, tim gan phèo phổi, nhất là óc heo, óc bò mới những thứ có cholesterol cao.
Tính trên 100 g thực phẩm, thì trứng (2 quả) có khoảng 372 mg cholesterol, tôm (125), mực (265), cật bò (337), gan heo (368), óc heo (2.500), óc bò (3.100).
PV: Cholesterol là chất độc có hại cho tim mạch có đầy trong những thứ liên quan đến thịt thà như thế thì biết đường nào mà tránh đây, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Cholesterol không phải là chất độc như bạn nghĩ. Trái lại, cơ thế rất cần cholesterol. Thiếu cholesterol là không được.
Cần vì cholestrol được dùng cho việc tu bổ màng tế bào, sản xuất ra các hormone và acid mật giúp tiêu hóa chất béo. Vỏ bọc tế bào thần kinh cũng cần đến cholesterol để dẫn truyền tín hiệu. Tín hiệu thần kinh lạng quạng, thì cơ thể hoạt động cũng lạng quạng.
Bạn cũng nên biết, 80% cholesterol trong cơ thể là do gan sinh ra, từ chuyên môn gọi là cholesterol nội sinh, chỉ có 20% cholesterol là do thực phẩm đưa vào.
Thực vật, rau quả củ không có cholesterol mà những người ăn chay, hoặc ăn kiêng vẫn sống khỏe đấy
Còn cholesterol do ăn uống đến từ trứng bơ sữa thịt cá,… chiếm 20%, gọi là cholesterol ngoại sinh. Nếu có ăn thừa thãi cholesterol, thì cơ thể một người bình thường sẽ tự điều hòa để có mức cholesterol ổn định trong máu.
PV: Ông nói cholesterol không phải là chất độc, nhưng tôi vẫn nghe người ta nhắc đến cholesterol xấu, cholesterol tốt đấy thôi. Cholesterol tốt thì không nói, nhưng cholesterol xấu chắc là có hại?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Chỉ có một loại cholesterol duy nhất mà thôi. Cholesterol là chất béo loại steroid, có công thức hóa học được xác định hẳn hoi.
Vì là chất béo, nên cholesterol không tan trong nước, không lưu thông trong máu được, nên phải bám chặt vào những cái "thuyền" để bơi trong máu. Những cái thuyền chở cholesterol này, khoa học gọi chung là lipoprotein.
Nhưng có nhiều loại lipoprotein, giống như có loại thuyền to, thuyền nhỏ vậy. Tùy vào cholesterol bám vào lipoprotein nào mà nó trở thành tốt hoặc xấu.
Bạn vẫn thường nghe nói, cholesterol xấu. Đó chính là LDL tên đầy đủ theo tiếng Anh là low-density lipoprotein (lipoprotein tỉ trọng thấp). Còn cholesterol tốt là HDL, viết tắt từ high-density lipoptotein (liporotein tỉ trọng cao).
Thực ra đó chỉ là cách gọi tắt thôi. LDL và HDL chính là tên gọi của loại lipoprotein chuyên chở cholesterol. Gọi đầy đủ, phải thêm chữ cholesterol đằng sau: LDL cholesterol hoặc HDL cholesterol.
Như thế, cholesterol chẳng có tội tình gì cả. Tội là do nó "trao thân gửi phận" cho cái "thuyền" nào đó thôi, nghĩa là gắn vào lipoprotein nào để chở nó đi trong máu, rồi bị gán cho là tốt hoặc xấu thôi.
Cholesterol xấu (LDL) được cho là đã để lại những mảng bựa bám vào thành mạch máu, gây nghẹt, dẫn đến bệnh tim mạch.
Còn cholesterol tốt (HDL) được cho là đã dọn sạch những mảng bựa này, chở cholesterol dư thừa về gan, làm sạch mạch máu.
Nhưng vấn đề tốt xấu của LDL và HDL vẫn còn tranh luận nhiều, ít ra là với HDL (tốt). Cao HDL trong máu chưa hẳn đã tốt, vẫn bị bệnh tim như thường.
PV: Tôi vẫn chưa hiểu cholesterol xấu gây bệnh tim mạch thế nào. Ăn thực phẩm có nhiều cholesterol thì vào máu biến thành cholesterol tốt hay xấu?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Tôi nhắc lại, 80% cholesterol trong cơ thể là do gan sản xuất, và chỉ có 20% cholesterol là lấy từ thực phẩm. Và như tôi đã nói ban nãy, cơ thể một người bình thường sẽ tự điều hòa để có mức cholesterol ổn định.
PV: Vâng, trở lại với quả trứng. Cháu nhà tôi rất thích ăn trứng. Gần như ngày nào cháu cũng đòi ăn món gì đó chế biến từ trứng gà hoặc trứng vịt. Tôi cũng hạn chế chỉ cho cháu ăn mỗi ngày 1 quả trứng, tuy vậy tôi vẫn cảm thấy lo lắng. Cho cháu ăn như vậy có phải quá nhiều cholesterol không, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Ăn trứng không chỉ là tiêu tụ cholesterol như những thực phẩm cao cholesterol khác, chẳng hạn tim gan phèo phổi bơ sữa thịt cá.
Trong lòng đỏ trứng còn có chất lecithine. Chất này giúp chuyển hóa chất béo tốt hơn, kềm hãm cholesterol đọng vào thành động mạch, và dọn dẹp sạch mạch máu (làm tăng HDL). Như vậy, ăn trứng là tiêu thụ cholesterol, được cho là bất lợi, nhưng ăn trứng cũng là tiêu thụ lecithine, được cho là tốt.
Sự thật về trứng: Trứng gà ta có bổ hơn trứng gà công nghiệp? Nên ăn bao nhiêu trứng/tuần? - Ảnh 1.
Đó là nói chuyện vòng vo suy diễn, từ trứng đến cholesterol, rồi từ choesterol đến bệnh tim mạch. Bây giờ đi thẳng vào vấn đề: Trứng có làm rủi ro bị tim mạch không?
Một nghiên cứu tổng hợp dựa trên nhiều nghiên cứu khác nhau của trường Đại học North Carolina đăng trên The American Journal of Clinical Nutrition (1) cho thấy, ăn trứng chẳng liên quan gì đến rủi ro bệnh tim mạch hay chết vì bệnh này cả, nhưng rất có thể làm tăng tỉ lệ mắc bệnh tiểu đường type 2, đồng thời rủi ro tim mạch cũng tăng với những người đã bị tiểu đường.
Một khảo cứu khác dựa trên hai nghiên cứu thống kê khá hoành tráng, với gần 40.000 quý ông và hơn 80.000 quý bà, không ai từng mắc bệnh tiểu đường, tim mạch, cholesterol cao và ung thư trên mạng JAMA (2), cũng cho kết luận tương tự.
Người khỏe mạnh ăn nhiều hơn một quả trứng mỗi ngày thì chẳng ảnh hưởng gì đến tim mạch cả, nhưng với người bị tiểu đường thì có tăng rủi ro bệnh động mạch vành. Kết luận cũng nêu, cần thêm nghiên cứu để khẳng định.
Các nghiên cứu trên, đi trực tiếp từ trứng đến rủi ro tim mạch, không qua trung gian cholesterol, đã minh oan cho trứng. Rõ ràng, cholesterol trong trứng không phải là lý do hợp lý để loại bỏ hay hạn chế ăn trứng, thấy trứng là bị cholesterol ám ảnh tim mạch, nhất là với người khỏe mạnh bình thường.
Như đã nói ban đầu, cholesterol không phải là chất độc, mà ngược rất cần thiết để tạo lập màng tế bào. Trẻ em lại đang tuổi lớn, không có lý do gì vì e ngại cholesterol mà loại bỏ trứng ra cả. Cơ thể chúng tự điều hòa được lượng cholesterol.
PV: Ông vừa nói rằng tuy chưa khẳng định, nhưng khoa học cho rằng ăn nhiều trứng "rất có thể" liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Tôi phải hiểu thông điệp này như thế nào? Thế có nghĩa là vẫn cần hạn chế ăn trứng phải không?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Không phải ăn trứng liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, mà là những người bị tiểu đường ăn nhiều trứng thì rủi ro tim mạch nhiều hơn.
An toàn thực phẩm chỉ đề cập đến những người khỏe mạnh, bình thường, ăn uống sao cho phù hợp để phòng tránh bệnh. Còn một khi đã bị bệnh, thì nên tuân thủ điều trị và hướng dẫn của bác sĩ.
PV: Tôi có chị bạn đang mang bầu. Chị ấy ăn nhiều trứng để bồi bổ sức khoẻ, ngày nào cũng ăn khoảng 2 – 3 quả trứng. Trong một lần đi khám định kỳ, bác sĩ nói kết quả xét nghiệm cho thấy chị bị mỡ máu cao và khuyên không nên ăn quá nhiều trứng. Nếu thực sự cholesterol trong trứng không gây hại thì sao bác sĩ lại khuyên như vậy, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Bị rối loạn mỡ máu thường do cholesterol nội sinh (do gan tạo ra), hơn là do cholesterol từ thực phẩm.
Tuy nhiên gan dùng acid béo, chủ yếu là loại acid béo no, có nhiều từ thịt mỡ động vật để chế tạo ra cholesterol nội sinh.
Mỡ máu cao còn liên quan đến chế độ ăn uống chưa phù hợp, chẳng hạn thiếu các loại rau cải, chứa cholin giúp chuyển hóa chất béo, kể cả do thiếu vận động.
Bị cao mỡ máu mà ăn thường xuyên 2-3 quả trứng một ngày bị bác sĩ… "khều" cho là phải rồi, còn than vãn gì nữa. Và chắc chắn bác sĩ còn thêm những lời khuyên khác để giúp hạ mỡ máu, chứ chẳng riêng gì giảm bớt ăn trứng.
Sự thật về trứng: Trứng gà ta có bổ hơn trứng gà công nghiệp? Nên ăn bao nhiêu trứng/tuần? - Ảnh 2.
(Ảnh minh họa)
PV: Thưa ông, tôi nghĩ là tôi đã hiểu được điều cơ bản nhất là cholesterol trong trứng không gây ra bệnh tim mạch ở người khoẻ mạnh bình thường. Nhân tiện nói về trứng, tôi có thể hỏi lan man một chút được không? Bà nội trợ chúng tôi có rất nhiều thắc mắc về trứng nhưng không phải lúc nào cũng có chuyên gia an toàn thực phẩm giải đáp. Ví dụ như khi chọn trứng thì chọn loại có vỏ nâu hay vỏ màu trắng thì bổ dưỡng hơn, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Màu của vỏ trứng là do giống của gà mái thôi, chứ dinh dưỡng của trứng thì tương đương nhau.
PV: Trứng gà, trứng vịt, trứng cút loại nào nhiều chất dinh dưỡng hơn?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Dinh dưỡng của trứng, protein, béo, khoáng, vitamin… tập trung ở lòng đỏ. Giữa loại trứng này và trứng khác có thể khác nhau về mặt dinh dưỡng chút ít, không đáng kể.
Nếu so sánh, ba loại trứng mà bạn vừa hỏi, thì trứng cút nhiều dinh dưỡng nhất. Trứng cút nhỏ, nên tỉ lệ lòng đỏ nhiều hơn, chiếm khoảng 50%, trong khi hai loại trứng gà và vịt chỉ khoảng 35-40%.
Trứng gà ta được cho là bổ hơn hơn gà công nghiệp cũng là do trứng to, trứng nhỏ, nghĩa là nhiều lòng đỏ hay ít lòng đỏ hơn thôi, chứ tôi không thấy đặc điểm dinh dưỡng nào nổi trội hơn.
PV: Còn trứng vịt muối, trứng vịt bắc thảo thì sao? Có bổ dưỡng hơn trứng vịt thường không?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Protein trong hột vịt muối và hột vịt bắc thảo đã bị chuyển hóa một phần rồi, nên về mức bổ dưỡng kém hơn trứng thường.
PV: Ông nói dinh dưỡng của trứng tập trung ở lòng đỏ, sao tôi thấy vận động viên thể hình lại thường ăn lòng trắng trứng, mà họ lại ăn rất nhiều mỗi ngày?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Vận động viên thể hình cần "tăng nạc giảm mỡ", nên họ phải tiêu thụ thật nhiều protein, ít béo, ít calo
Dù protein trong lòng đỏ trứng phải nói là tuyệt vời, nhưng lòng đỏ cũng còn chứa nhiều chất béo, khoảng 15%, rồi còn nhiều vitamin và khoáng nữa…Trong khi lòng trắng trứng, hầu hết chỉ là protein. Không béo, lại cung cấp năng lượng ít, nên thích hợp với nhu cầu tăng nạc giảm mỡ của vận động viên.
PV: Nhưng người ta lại nói, ăn lòng trắng trứng khó tiêu. Điều này có đúng không?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Điều này đúng, nếu bạn ăn trứng sống. Trong lòng trắng trứng sống, có chất antitrypsin cản trở sự tiêu hóa protein. Do đó ăn trứng ốp la tai tái thì khó tiêu đấy. Không những thế, ăn trứng sống kèm với protein khác như thịt, cá… cũng làm những protein này bị khó tiêu luôn.
Nếu trứng được luộc hoặc chiên kỹ thì không sao, vì chất antitrypsin này sẽ bị vô hiệu hóa.
Ngoài ra, lòng trắng trứng sống còn chưa chất avidin. Chất avidin này tạo phức với biotin, còn gọi là vitamin H, khiến cơ thể không hấp thu được vitamin H. Thiếu vitamin H tóc rụng, móng tay móng chân bị gãy đấy.
Nói chung thì không nên ăn trứng sống, hay trứng tai tái. Đó là chưa kể trứng rất dễ nhiễm salmonella gây tiêu chảy, thương hàn. Loại vi khuẩn này bị diệt khi đun nóng.
PV: Xin được hỏi ông một vấn đề... hơi liên quan đến trứng. Tôi có mẹo bóc trứng luộc rất nhanh và không bị dính vỏ là khi luộc xong thì ngâm quả trứng vào nước lạnh trước khi bóc. Nhưng rất nhiều tờ báo khuyên tuyệt đối không nên làm thế sẽ khiến cho quả trứng dễ bị nhiễm khuẩn. Thực tế thì trứng bị nhiễm khuẩn dễ dàng thế sao, thưa ông?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Trứng dễ nhiễm khuẩn salmonella là do khâu bảo quản ở trại nuôi gà đẻ, và lưu thông trên thị trường, còn đã luộc rồi thì lại là chuyện khác.
Trường hợp "mẹo bóc trứng luộc rất nhanh"của bạn là tùy thuộc vào nước lạnh của bạn có sạch không, tay bạn khi bóc vỏ trứng có sạch hay không thôi.
PV: Sau cùng, theo ông, có nên thường xuyên ăn trứng không? Ba quả trứng mỗi tuần?
Chuyên gia Vũ Thế Thành: Tôi không hiểu dựa trên cơ sở nào mà nhiều bài báo lại khuyên chỉ nên ăn 3 quả trứng mỗi tuần.
Trứng giàu protein, mà là protein xịn, giá trị sinh học tới 100, tức là ăn bao nhiêu protein của trứng vào thì sẽ biến bấy nhiêu thành protein của cơ thể, hơn cả các loại thịt cá. Đó là chưa kể còn rất nhiều loại vitamin và các khoáng vi lượng nữa.
Lòng đỏ trứng chứa khoảng 5gr chất béo, đa số là chất béo bất bão hòa, cả loại một nối đôi và nhiều nối đôi, được cho là loại chất béo tốt, góp phần vào làm giảm rủi ro bệnh tim mạch. Do đó nếu chỉ dùng ‘lý thuyết cholesterol’ để lên án trứng liên quan đến tim mạch là không… sòng phẳng
Đánh giá một loại thực phẩm lành mạnh hay ít lành mạnh phải nhìn vào mọi góc cạnh dinh dưỡng của nó. Việc săm soi vào cholesterol, rồi liên hệ đến tim mạch đã làm lãng quên những giá trị đích thực của trứng.
Nếu bị bệnh, thì nên nghe lời khuyên của bác sĩ, mà bác sĩ cũng chỉ khuyên nên hạn chế, nghĩa là ăn ít lại, chứ chẳng ai khuyên kiêng hẳn trứng, trừ những người bị dị ứng với trứng.
Nếu bạn khỏe mạnh thì ngán gì trứng? Cứ ăn lai rai, miễn là không lạm dụng trường kỳ, theo kiểu mỗi ngày vài ba quả thì hơi quá đáng. Chứ đâu phải cứ thấy trứng là thấy cholesterol, là thấy tim mạch, đột quỵ đâu.

Thứ Năm, 1 tháng 2, 2018

Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, tốt nhất là đừng động tới vì có thể gây ung thư

Có rất nhiều loại thực phẩm tưởng chừng rất phổ biến nhưng có khả năng gây ung thư cao mà bạn nên để ý hạn chế dùng.
Vệ sinh an toàn thực phẩm đang trở thành mối lo lắng rất lớn đối với người tiêu dùng. Mọi thực phẩm đều tiềm ẩn khả năng gây hại cho sức khỏe, đặc biệt là căn bệnh ung thư. Trong dịp Tết Nguyên Đán sắp tới, vấn đề an toàn thực phẩm càng cần được chú trọng hơn để đảm bảo sức khỏe cho bản thân và gia đình, vì vậy hãy cố gắng ăn ít hoặc tốt nhất đừng động tới những thực phẩm dưới đây.
Tôm đông lạnh
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư

Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, tốt nhất là đừng động tới vì có thể gây ung thư

Hầu hết khi mua tôm động lạnh thì người sử dụng đều không biết chính xác nó được cấp đông từ bao giờ, tại sao để lâu như vậy tôm vẫn được tươi ngon như mới. Thực tế rằng, để duy trì sự tươi ngon của tôm thì ngoài cấp đông ra thì các thương nhân đều bổ sung một số chất bảo quản khác để tôm không bị hỏng. Nếu sử dụng sẽ gây những tác động rất xấu tới sức khỏe. Tốt hơn hết hãy mua những con tôm tươi bởi chúng an toàn và giá tri dinh dưỡng cũng cao hơn.
Thực phẩm chế biến sẵn
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư
Tất cả các loại thực phẩm chế biến sẵn như xúc xich, thịt xông khói, thịt hộp... chủ yếu được chế biến bằng muối, nitrite hoặc ngâm trong nitrat. Những chất này khi vào cơ thể sẽ kết hợp với Nitrosamies tạo thành những chất gây ung thư. Ngoài ra, các sản phẩm chết biến sẵn không thể thiếu các loại gia vị như muối, đường, gia vị tăng hương vị... những thứ này để lâu hoàn toàn không tốt cho sức khỏe con người, đặc biệt là bệnh tim mạch.
Nước ép trái cây đóng hộp
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư
Nước ép trái cây đóng hộp khác với nước ép trái cây tươi, chúng chứa rất nhiều đường dễ dẫn đến tích tụ chất béo, gây cảm giác chán ăn, ảnh hưởng đến sự hấp thụ các thực phẩm khác, dễ dẫn tới béo phì. Ngoài ra, loại nước này còn có một vài các phụ gia khác như thêm đường, chất bảo quản, chất tạo màu... gây ảnh trực tiếp đến các bộ phận trong cơ thể như thận, gan và túi mật. Lời khuyên dành cho các bạn rằng hãy bớt chút thời gian để chuẩn bị cũng như tự pha chế cho mình một cốc nước ép để an toàn cũng như đảm bảo thành phần dinh dưỡng.
Trái cây, hoa quả sấy khô
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư
Những loại trái cây, hoa quả sấy khô như quả óc chó, đậu phộng và các loại đồ khô có hương vị khác chứa rất nhiều các phụ gia, chất tạo hương vị, đường, muối và đặc biệt là chất sulfur dioxide và Hydro peroxit. Các chất này khi hấp thụ vào cơ thể có thể gây ra những phản ứng tiêu cục như thở khò khè, đau đầu, buồn nôn và các triệu chứng dị ứng khác. Hãy sử dụng những loại hoa quả, trái cây tươi ngon khác trong dịp tết này để tránh những hậu quả đáng tiếc.
Bánh ngọt
Cố gắng ăn ít các loại thực phẩm này, sức khỏe, thực phẩm có thể gây ung thư
Các món bánh ngọt thường chứa nhiều đường cũng như hàm lượng chất béo cao hơn bình thường bởi chúng có chứa chất béo bão hòa gây béo phì, chán ăn. Vì vậy, thay vì sử dụng nó thường xuyên thì hãy đổi qua một vài thực phẩm tươi ngon khác.

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày!

Bánh mì là bữa sáng, món ăn phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, nó lại không phải là loại thực phẩm hoàn toàn có lợi đối với sức khỏe. Dưới đây là những lý do bạn không nên ăn quá nhiều bánh mì.

1. Không có nhiều chất dinh dưỡng

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 1

Không giống như các loại thực phẩm khác, bánh mì (đặc biệt là bánh mì trắng) và các sản phẩm chế biến từ bánh mì có thể đáp ứng nhu cầu khi đói nhưng không cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Thường xuyên ăn bánh mì có thể dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ em.

Chính vì vậy, không nên lạm dụng loại thực phẩm này thường xuyên và trong thời gian dài. Nếu yêu thích bánh mì, bạn nên lựa chọn các loại bánh chế biến từ bột mì hoặc ngũ cốc để có hàm lượng dinh dưỡng nhiều hơn.

2. Tăng đường huyết

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 2

Bánh mì được làm từ bột ngũ cốc, cơ thể tiêu hóa và chuyển hóa nhanh chóng thành glucose trong máu, kích thích sản xuất các hormone béo insulin. Thậm chí, bánh mì còn có chỉ số đường huyết GI cao hơn so với các loại kẹo ngọt. Lượng đường trong máu tăng giảm liên tục có thể khiến bạn cảm thấy đói nhanh chóng. Điều này tiếp tục gây ra một chu kỳ ăn thường xuyên, dẫn tới tình trạng béo phì, tăng cân mất kiểm soát.

3. Chứa nhiều muối

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 3

Hầu hết bánh mì đều chứa rất nhiều muối, đặc biệt khi kết hợp cùng nhiều thực phẩm khác. Bạn ăn các loại bánh mì này đồng nghĩa với việc bạn đang nạp vào cơ thể một lượng muối quá mức cho phép.

4. Tăng cân

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 4

Nếu bạn ăn quá nhiều bánh mì, tất cả tinh bột, muối, đường tinh chế và chất bảo quản có trong bánh có thể gây béo phì. Vì vậy, nên ăn ở mức độ vừa phải.

5. Khó tiêu hóa

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 5

Gluten trong bánh mì khó tiêu hóa, gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng như táo bón, rối loạn tiêu hóa nếu ăn thường xuyên, đặc biệt ở người già và trẻ em.

6. Gây mệt mỏi

Đừng dại mà ăn bánh mì hằng ngày! - 6

Bánh mì có chứa các chất protein biến đổi gene, gây ra các triệu chứng mệt mỏi liên tục. Các nhà khoa học cho biết việc sử dụng bánh mì trắng thường xuyên dẫn đến thiếu chất xơ trong cơ thể, ảnh hưởng hoạt động bình thưởng của não bộ.

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

Bí mật dinh dưỡng và cách ăn trứng gà tốt nhất nhiều người chưa biết

Chuyên gia cho rằng, chúng ta ăn trứng nhưng chưa hiểu nhiều về cách chế biến trứng, thông tin dinh dưỡng và những bí mật để sử dụng trứng gà đúng cách. Đây là điều bạn nên biết.

Có rất nhiều cách để ăn trứng gà, nhưng bạn vẫn băn khoăn tự hỏi, cách ăn nào là tốt nhất, lòng đỏ hay lòng trắng tốt hơn, nên ăn bao nhiêu trứng là đủ, chế biến thế nào có thể giữ lại dinh dưỡng nhiều nhất…?
Kết quả hình ảnh cho trứng gà
Sau đây là những câu trả lời từ các chuyên gia giúp bạn hiểu rõ hơn về trứng gà.
Cách chế biến trứng nào để có nhiều dinh dưỡng nhất?
Căn cứ vào sự hấp thụ chất dinh dưỡng và khả năng tiêu hóa sau khi ăn trứng cho thấy, Trứng luộc (nguyên vỏ) tỉ lệ là 99%.
Trứng hấp (đã bỏ vỏ) là 97%, nhiệt độ nấu ở mức thấp, nhưng các chất riboflavin, lutein và các vitamin tan trong nước khác sẽ giảm.
Trứng rán non lửa là 98%: Nhiệt độ đun nấu thấp hơn, nhưng đã có một sự mất mát nhẹ các chất vitamin tan trong nước.
Trứng chiên già lửa 81,1%: Nhiệt độ nấu cao, vitamin A, D, E, K và các vitamin tan trong dầu mỡ và vitamin tan trong nước đã mất.
Trứng nấu với sữa hoặc nước là 92,5%
Ăn trứng sống là 30 - 50%.
Từ những phân tích trên đây, có thể khẳng định, ăn trứng luộc là có tỉ lệ hấp thụ dinh dưỡng cao nhất. Nhưng cần lưu ý rằng, trứng cần luộc đúng độ, vừa chín tới, ăn chậm nhai kỹ và nuốt từ từ thì tiêu hoá sẽ tốt hơn. Trứng luộc cũng được xem là cách ăn tốt nhất cho người bệnh tim mạch.
Tại sao thời gian luộc trứng khác nhau liên quan đến quá trình tiêu hoá?
Cách chính xác để luộc trứng là cho nước lạnh vào nồi, rửa sạch trứng rồi luộc lửa nhỏ cho nước nóng dần lên, sau khi nước sôi thì đun tiếp lửa nhỏ trong 2 phút, tắt bếp và tiếp tục ngâm trứng trong nồi thêm 5 phút.
Cách luộc trứng này sẽ làm cho quả trứng luộc xong có cảm giác chín mềm, thịt trứng chắc nhưng không bị cứng.
Thời gian luộc trứng dài ngắn khác nhau sau khi ăn vào cơ thể sẽ có thời gian tiêu hoá tương ứng khác nhau, điều này nhiều người chưa biết.
Ví dụ, nếu luộc trứng trong 3 phút, là trứng tái, khi ăn sẽ dễ tiêu hoá nhất, khoảng 90 phút sau sẽ tiêu hoá xong.
Luộc trứng trong 5 phút, là trứng gần chín, cơ thể sẽ mất khoảng 2 tiếng để tiêu hoá.
Luộc trứng chín kỹ, sẽ mất khoảng 3 giờ 15 phút để cơ thể tiêu hoá.
Trứng luộc trong 5 phút, không chỉ mềm mượt, mùi vị thơm đậm đặc trưng, mà còn giúp cho cơ thể dễ hấp thụ dinh dưỡng nhất.
Một nghiên cứu tại Mỹ từng công bố kết luận, 24 người tham gia thí nghiệm mỗi ngày ăn 2 quả trứng luộc chín non (chưa chín hẳn) sau 6 tuần thì mỡ máu không tăng lên, làm cho chất Cholesterol tốt (HDL) trong máu tăng lên 10%.
Chuyên gia tiết lộ: Bí mật dinh dưỡng và cách ăn trứng  gà tốt nhất nhiều người chưa biết - Ảnh 3.
Ăn bao nhiêu trứng một ngày là tốt nhất?
Trứng là thực phẩm có hàm lượng protein cao, nếu ăn quá nhiều có thể dẫn đến sự gia tăng gánh nặng cho quá trình trao đổi chất, từ đó làm tăng gánh nặng cho thận. Vì vậy, nhóm người cao tuổi và trẻ em thì nên ăn mỗi ngày 1 quả. Còn thanh thiếu niên hoặc người lớn thì có thể ăn tối đa là 2 quả.
Trứng vốn là một món ăn giàu chất dinh dưỡng, điều này thì hầu hết mọi người đều đã biết. Trứng gà được gọi với những cái tên nổi bật như "món ăn sáng giàu dinh dưỡng nhất thế giới", "kho dinh dưỡng lý tưởng", "nguồn protein tốt nhất"…
Protein quan trọng nhất chỉ nằm trong lòng trắng trứng
Một quả trứng chỉ gồm lòng đỏ và lòng trắng, nhưng thực tế có 2 luồng ý kiến trái ngược khi ăn trứng. Một nhóm cho rằng, chỉ có lòng đỏ trứng mới giàu dinh dưỡng, nên khi ăn thường chọn lòng đỏ, bỏ đi lòng trắng (ví dụ như ăn trứng chần). Nhóm người khác vì lý do sợ béo, lại chỉ ăn lòng trắng mà không ăn lòng đỏ. Vậy rốt cuộc thì lòng trắng tốt hay lòng đỏ tốt?
Theo giáo sư Trình Nghĩa Dũng, Hội trưởng Hiệp hội Dinh dưỡng Trung Quốc cho rằng, lòng trắng và lòng đỏ đều có những ưu điểm riêng, thành phần dinh dưỡng cũng có sự khác biệt.
Lòng trắng trứng ngoài 90% là nước ra, còn lại khoảng 10% là protein. Nhưng bạn đừng nên xem nhẹ con số 10% này, vì đa số protein chứa trong trứng đều nằm ở lòng trắng.
Theo giáo sư Lận Tân Anh, Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm Sơn Đông (TQ), chất protein trong trứng gà được xem là quý như nguồn sữa mẹ thứ 2 trong thế giới thực phẩm, có tỉ lệ hấp thụ và sử dụng rất cao khi vào cơ thể, là một trong những chất protein giá trị nhất trong chuỗi thức ăn cho con người.
Giáo sư Trình Nghĩa Dũng cũng nhấn mạnh, những người có thể chất yếu ớt như người cao tuổi, trẻ em, bệnh nhân sau phẫu thuật, tốt nhất là nên ăn bổ sung lòng trắng trứng gà để cải thiện sức khoẻ.
Sự đa dạng dinh dưỡng của lòng đỏ
So với lòng trứng trắng, dinh dưỡng của lòng đỏ trứng phức tạp hơn nhiều. Tất cả chất béo của trứng đều tập trung trong lòng đỏ trứng, nhưng chủ yếu có lợi cho chất axit béo của con người. Bên cạnh đó, lòng đỏ cũng chứa thành phần axit oleic – một thành phần chính của dầu ô liu, có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa bệnh tim.
Ngoài ra, vitamin A, D, E, K, phốt pho, sắt và khoáng chất khác cũng chủ yếu nằm trong lòng đỏ trứng, mặc dù tỷ lệ hấp thu sắt là tương đối thấp, nhưng đối với nhóm trẻ nhỏ chưa ăn được thịt hoặc ăn ít thịt thì đây cũng là một nguồn thực phẩm để bổ sung sắt quan trọng.
Bên cạnh đó, lòng đỏ trứng còn có một chất rất quan trọng - lecithin, đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển của não, cũng như có tác dụng làm giảm cholesterol.
Màu sắc của lòng đỏ còn chứa những bí mật dinh dưỡng khác như chất riboflavin để ngăn ngừa nứt miệng, cũng như lutein và zeaxanthin để bảo vệ mắt. Thông thường, màu sắc lòng đỏ càng sẫm thì hàm lượng vitamin càng cao.
Giáo sư Dũng nói, một số người lo sợ trong lòng đỏ trứng chứa nhiều cholesterol, nhưng trên thực tế, điều này rất sai lầm.
Người cao tuổi nếu có mức cholesterol huyết thanh quá thấp, có thể gây ra khả năng miễn dịch thấp, sức mạnh của mạch máu cũng sẽ bị ảnh hưởng, không có lợi cho sức khỏe tim mạch. Vì vậy, người bình thường nếu ăn một hoặc hai lòng đỏ trứng một ngày sẽ rất khỏe mạnh. Còn đối với những người có chứng mỡ máu cao, nên ăn nửa quả trứng mỗi ngày sẽ thích hợp hơn.
Theo phó giáo sư dinh dưỡng và thực phẩm Phạm Chí Hồng, Học viện thực phẩm, Đại học Nông nghiệp Trung Quốc, cách chế biến trứng quyết định chất lượng dinh dưỡng trong trứng mà cơ thể có thể hấp thụ được.
Chuyên gia tiết lộ: Bí mật dinh dưỡng và cách ăn trứng  gà tốt nhất nhiều người chưa biết - Ảnh 4.
Vì sao luộc trứng xong lại nên để trong nồi ngâm thêm 5 phút? Cách chế biến quyết định giá trị dinh dưỡng
Theo phó giáo sư Hồng, nếu chỉ biết cách nấu trứng thế nào tốt nhất, mà không học cách thao tác chế biến sao cho đúng, thì lại là một thiếu sót.
Nấu không đúng, không những khiến cho cảm giác ăn không ngon, mà còn ảnh hưởng đến việc hấp thụ dinh dưỡng, thậm chí còn tạo ra những chất độc hại trong quá trình chế biến.
Luộc trứng
Rửa trứng sạch và cho vào nồi nước lạnh, đun lửa nhỏ tăng dần cho nước nóng lên. Sau khi nước sôi tiếp tục đun 3 phút, tắt lửa, ngâm trứng trong nồi tiếp tục thêm 5 phút. Cách luộc này sẽ khiến cho lòng trắng chín mềm, lòng đỏ chín vừa tới và thành khuôn, không bị lòng đào, chất protein biến tính vừa ở mức tối ưu nhất, dễ dàng hấp thụ nhất.
Nếu thời gian luộc trứng vượt quá 10 phút, không chỉ làm cho món ăn mất hương vị, mà còn làm thất thoát vitamin, chất đạm cũng trở nên khó tiêu hoá.
Ốp trứng
Khi dầu nóng lên, đập trứng vào thì cần chuyển lửa nhỏ lại để nấu. Trứng có thể nấu cùng cà chua, rau xanh sẽ có vị ngọt nếu thêm chút rượu, quả kỷ tử…
Nấu canh trứng
Không nên cho thêm muối hoặc dầu khi đánh trứng, như vậy sẽ dễ làm cho trứng bị thay đổi kết cấu, làm tổn thất chất kết dính trong trứng, món canh nấu xong sẽ có cảm giác thô và cứng.
Không nên quấy đánh trứng với lực quá mạnh. Chỉ cần khuấy nhẹ ít cái cho có cảm giác trứng tan đều ra là đổ trực tiếp vào nồi canh. Ngoài ra, khi nấu canh trứng có thể cho thêm ít sữa, sẽ làm cho món ăn trở nêm mềm mại và trơn mượt hơn, chất dinh dưỡng của món canh phong phú hơn.
Rán trứng
Nên rán với lượng dầu mỡ vừa phải, dùng lửa ở mức vừa, nên cuộn trứng cho dày lại khi rán thì sẽ giữ được lượng dinh dưỡng tốt hơn.
Xào trứng
Xào trứng thì nên nấu lửa vừa, không nên bật lửa to, nếu không sẽ thất thoát hết chất dinh dưỡng, đồng thời làm cho trứng bị cứng. Nhưng cũng không nên nấu lửa nhỏ, vì thời gian dài sẽ khiến trứng bị mất nước, sẽ làm cho món ăn bị khô, ảnh hưởng đến khẩu vị.

Thứ Năm, 18 tháng 1, 2018

Sai lầm nghiêm trọng khi ăn cá

Nhiều sai lầm nghiêm trọng khi ăn cá khiến sức khỏe bạn bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Ăn cá khi bị ho – bệnh càng nặng
Theo các chuyên gia y tế khuyến cáo thì người ho lâu ngày và phải dùng thuốc điều trị không nên ăn cá, đặc biệt là cá biển để tránh bị dị ứng.
Bởi lẽ, trong cá biển có chứa nhiều histamine, khi được nạp vào cơ thể quá nhiều nó sẽ xâm nhập vào quá trình tuần hoàn máu, gây ra hiện tượng dị ứng với histamine.
Việc ăn cá khi sử dụng thuốc ho, hay các thuốc kháng sinh liều cao,thuốc hạ huyết áp là điều các chuyên gia y tế khuyên bạn không nên dùng cùng lúc. Nó sẽ làm phản tác dụng của cả thuốc và thực phẩm, gây hại cho bạn.
Bạn tuyệt đối không nên ăn cá khi bị ho.
Ăn cá khi đói - nguy cơ bị gout
Ăn cá khi đói khiến cho nguy cơ phát tác bệnh gout tăng lên. Sở dĩ vậy vì hàm lượng dinh dưỡng trong cá có chất đạm cao được nạp vào cơ thể bạn khi đói sẽ làm tăng lượng Purine chuyển hóa thành dạng axit uric – một loại axit làm tổn thương ở mô, dẫn đến bệnh gout. Vì vậy, để tránh nguy cơ mắc bệnh gout, bạn không nên ăn cá lúc đang đói.
Nguy cơ này cao hơn khi bạn ăn cá biển, cá ở tầng nước sâu vì hàm lượng đạm của những loại cá này là rất cao. Không chỉ riêng cá mà các loại hải sản nói chung luôn được các chuyên gia về gout khuyến cáo không nên sử dụng.
Cá càng tươi càng tốt
Đây là suy nghĩ của hầu hết mọi người, khi đi chợ, các bà nội trợ thường chọn những con cá còn bơi tung tăng khỏe mạnh với mong muốn có được món ăn tươi ngon, giàu dinh dưỡng cho gia đình.
 Kết quả hình ảnh cho cá tươi
Tuy vậy, các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng, đây là thói quen lâu đời nhưng lại là một sai lầm mà không nhiều người biết. Lý do là môi trường sống hiện nay đã trở nên kém an toàn, dù cá được đánh bắt trong tự nhiên hay cá nuôi, đều bị nhiễm một số chất độc hại nhất định từ môi trường sống và thức ăn.
Khi cá còn tươi sống, giết thịt và chế biến để ăn ngay sẽ vô tình ăn luôn cả độc tố đang tồn tại trong thịt cá chưa kịp phân giải. Nếu cá có ký sinh trùng thì chúng vẫn còn sống và sẽ nhanh chóng xâm nhập vào cơ thể, gây ra những tác hại không hề nhỏ tới sức khỏe.
Ngoài ra, khi cá còn sống sẽ không diễn ra quá trình phân giải chất protein, thành phần dinh dưỡng cũng chưa chuyển hóa, hương vị cũng không phải là ngon nhất.
Nuốt mật cá
Sự tin tưởng mù quáng của nhiều người vào tác dụng chữa bệnh của mật cá như: đau bụng, đau lưng, hen suyễn… đã gây ra những vụ ngộ độc chết người.
Theo nhiều bác sĩ Đông y, mật cá sau khi được điều chế thành thuốc thì có thể được sử dụng để làm thuốc để chữa bệnh, ví dụ như trị bệnh đau mắt, đỏ mắt, viêm họng, viêm loét ác tính...
Nhưng nếu ăn mật cá trực tiếp hay ngâm rượu thì chất tetrodotoxin có trong mật cá sẽ gây tác hại lên hệ thần kinh gây mệt mỏi, suy hô hấp, rối loạn hành vi.
Ăn gỏi cá sống
Kết quả hình ảnh cho gỏi cá sống
Những tín đồ thích các món gỏi cá cần lưu ý. Cá sống thường chứa các kí sinh trùng và nếu không nấu chín thì không thể tiêu diệt các kí sinh trùng đi. Nếu ăn cá sống, các kí sinh trùng này sẽ xâm nhập vào cơ thể, gây bất lợi cho gan, làm cho gan bị nhiễm ký sinh trùng, trường hợp nghiêm trọng thậm chí dẫn đến ung thư gan.

Thứ Ba, 16 tháng 1, 2018

5 loại rau tuyệt đối tránh nấu chín

Rau củ quả rất bổ dưỡng, không thể thiếu trong thực đơn hàng ngày. Tuy nhiên, bạn nên biết rằng có những loại rau không nên chế biến chín vì sẽ làm bay hơi các vitamin và dưỡng chất có lợi
Củ cải đường
Củ cải đường sẽ mất đi khoảng 25% folate nếu chúng được nấu chín. Ăn sống thực phẩm này để đảm bảo nguyên vẹn các hợp chất có lợi cho não bộ. Do vậy các chuyên gia khuyên ăn củ cải đường sống để đảm bảo nguyên vẹn các hợp chất có lợi cho não bộ. Bạn có thể dùng củ này chế biến thành món salad ngon miệng.
Rau mầm
Rau mầm giàu dưỡng chất với điều kiện không được nấu chín, đặc biệt tốt cho người muốn giảm cân, sáng da.
Ớt
Có chứa một lượng lớn vitamin C có thể cải thiện khả năng miễn dịch, ngăn chặn hiệu quả các bệnh khác nhau. Vitamin C trong ớt đỏ dễ bị mất đi khi bạn nướng trên 375 độ C hoặc chiên. Do đó, bạn chỉ nên ăn ớt sống hoặc làm gia vị cho các món không sử dụng nhiệt.
Bông cải xanh (súp lơ xanh)
Nếu bạn nấu chín bông cải xanh, myrosinase, một loại enzyme có trong bông cải xanh giúp làm sạch chất gây ung thư trong gan có thể biến mất.
Dưa chuột
Dưa chuột chứa vitamin C, B và các chất khoáng. Các chất dinh dưỡng có trong lớp vỏ cũng rất dồi dào. Vì vậy, bạn nên ăn dưa chuột tươi sống càng nhiều càng tốt. Tuy nhiên, để loại bỏ thuốc trừ sâu từ thức ăn. Tốt nhất bạn nên nhúng cà chua trong nước muối từ 15 đến 20 phút và sau đó rửa bằng nước sạch.
Rau cần tây
Rau cầu tây giàu chất xơ, kali, vitamin B2, tốt cho hệ tiêu hóa, giúp ngăn ngừa mệt mỏi và loét miệng. Cần tây nên ăn sống hoặc làm gỏi, trộn salad, tránh nấu chín bằng nhiệt vì sẽ làm bay hơi các chất dinh dưỡng.

Thứ Bảy, 13 tháng 1, 2018

Sau khi sinh, các mẹ nên ăn gì?

1 - 2 ngày đầu sau khi sinh, tốt nhất sản phụ nên ăn các loại thức ăn nhẹ, dễ tiêu như: cháo, mì, trứng gà là chính.

Ngày nay, các bà mẹ trẻ sau khi sinh con vừa mong nhanh chóng khôi phục tuổi xuân đã qua, giữ được cơ thể khoẻ mạnh, lại sợ ăn nhiều quá sẽ bị béo. Vậy ăn thế nào? Và ăn cái gì mới được coi là khoa học và đầy đủ dinh dưỡng?

Hình ảnh có liên quan

Thực đơn của sản phụ cần chú ý những gì?

Sau khi sinh con phải chú ý đến chế độ dinh dưỡng trong ăn uống, đây là điều mà ai cũng biết. Nhưng trong 1 - 2 ngày đầu sau khi sinh, tốt nhất nên ăn các loại thức ăn nhẹ, dễ tiêu như: cháo, mì, trứng gà là chính. Không nên ăn thức ăn có nhiều mỡ như: chân giò, thịt gà mái. Cùng với sự hồi phục của khả năng tiêu hoá có thể ăn những thức ăn giàu năng lượng và dinh dưỡng: canh gà, canh xương....

Để đảm bảo người mẹ nạp đủ dinh dưỡng gồm protein, chất béo, đường, chất khoáng, vitamin, nước, trong ăn uống cần chú ý là thức ăn phải đa dạng, phối hợp thức ăn tinh và thô một cách hợp lý. Mỗi ngày có thể ăn 5 - 6 bữa, người mẹ không nên kiêng cữ quá nhưng tránh đồ ăn sống, nhiều mỡ, cay, có tính kích thích. Trong thời gian cho con bú, rượu, hút thuốc phải kiêng tuyệt đối. Một số bà mẹ có di chứng cao huyết áp trong thời kỳ mang thai cần phải ăn hạn chế muối.

Những bà mẹ bị rách tầng sinh môn và phải khâu, nên ăn thức ăn ít chất bã, chia nhỏ bữa ăn, 5 - 6 lần/ngày, ăn trong 3 ngày. Những bà mẹ phải mổ đẻ, sau khi mổ, công năng đường ruột đã hồi phục (khoảng 24 tiếng sau mổ) có thể áp dụng chế độ ăn từng lỏng đến đặc dần. Sau khi người mẹ có thể tự đi đại tiện được, có thể ăn chế độ bình thường.

Một số thức ăn có lợi cho sản phụ

Đường là một trong những chất dinh dưỡng mà cơ thể người cần, sau khi ăn, qua quá trình tiêu hóa, đường sẽ biến đổi, được cơ thể người hấp thu, giải phóng ra nhiệt lượng. Đường đỏ có tính ôn, ích khí, kiện tì ôn vị, tản hàn, hoạt huyết, dễ tiêu hóa, giảm đau, sinh sữa. Dân gian thường dùng đường đỏ để điều trị các chứng đa, băng huyết, huyết áp cao sau đẻ và bị lạnh. Do có nhiều tác dụng dinh dưỡng như vậy nên các sản phụ ăn nhiều đường đỏ là rất có ích.

Sau khi sinh, các mẹ nên ăn gì? - 1
Thịt cá chép giúp nâng cao sức co bóp của cơ tử cung

Người già thường hay khuyên sản phụ nên ăn nhiều cá chép trong thời gian “nằm chỗ”. Vậy ăn các chép có lợi gì? Thịt cá chép có thể trục máu dư, máu dư ở đây chủ yếu là máu đẻ. Do thịt cá chứa nhiều protid, có thể thúc đẩy tử cung co bóp, nâng cao sức co bóp của cơ tử cung. Khi tử cung co bóp, các sợi cơ sẽ co ngắn lại, ép lên mạch máu giúp cho máu đẻ và dịch dính trong âm đạo ra ngoài cơ thể.

Theo Đông y, cá chép tính bình vị ngọt, có lợi cho tiểu tiện, có tác dụng giải độc, có thể điều trị các bệnh xơ gan, bụng trướng, phụ nữ băng huyết, sau khi sinh không có sữa. Dùng một con cá chép tươi khoảng 500g, nấu chín với rượu vang, hoặc mổ cá bỏ nội tạng, sấy khô và ngiền thành bột, dùng hàng ngày với rượu vang để điều trị chứng ứ máu tử cung. Cá chép còn có tác dụng thúc đẩy sự tiết sữa, do vậy sau khi sinh con, người mẹ ăn cá chép là rất hợp lý.

Tại sao các sản phụ hay được khuyên ăn trứng gà?

Thành phần dinh dưỡng trong trứng gà rất phong phú, cách nấu đơn giản, vừa kinh tế lại vừa thực tế, đồng thời trứng gà chứa nhiều protein được cơ thể người hấp thu, là loại thực phẩm tốt cho người mẹ bồi dưỡng. Trong trứng gà chứa chất thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức não, có thể nhanh làm lành vết thương ở các cơ quan. Người mẹ ăn nhiều trứng gà sẽ có lợi cho việc nuôi con bằng sữa và sự phục hồi công năng của các tổ chức, bé bú sữa mẹ giúp các tế bào não của bé tăng trưởng, giúp bé càng thông minh, khoẻ mạnh. Sau khi ăn trứng gà có thể thúc đẩy lượng sữa tiết ra. Người mẹ mỗi ngày ăn 4 quả trứng là thích hợp, không nên ăn nhiều quá ảnh hưởng đến việc tiêu hóa.

Sau khi sinh, các mẹ nên ăn gì? - 2
Trứng gà sẽ có lợi cho việc nuôi con bằng sữa và sự phục hồi công năng của các tổ chức

Ăn hoa quả như thế nào sau đẻ cho có lợi?

Sau khi sinh con, hàng ngày người mẹ đều có thể ăn hoa quả. Nếu người mẹ bị táo bón, thì mỗi ngày ăn một quả chuối tiêu cũng có tác dụng tốt, theo một số tài liệu, ăn chuối tiêu còn có tác dụng giảm căng thẳng thần kinh. Có những sản phụ sau sinh không muốn ăn, thì việc ăn hoa quả cũng giúp ích cho tiêu hoá. Quả sơn tra vừa chua vừa ngọt sau khi ăn sẽ làm tăng cảm giác thèm ăn, có lợi cho tiêu hóa, thúc đẩy tử cung co bóp tống máu đẻ ra ngoài. Đồng thời hoa quả bổ sung sự thiếu hụt vitamin trong cơ thể mẹ. Nhưng người mẹ không nên ăn quá nhiều loại hoa quả chua, lạnh, đề phòng chất toan làm hại răng và dạ dày bị kích thích bởi thức ăn lạnh.

Dựa vào thể chất để lựa chọn thức ăn thế nào?

Với người tinh huyết hư tổn: sau khi sinh con, nếu người mẹ thấy có các triệu chứng như hoa mắt chóng mặt, tim đập loạn nhịp, mất ngủ, tê chân tay, sắc mặt vàng hoặc trắng nhợt, da sạm và thô ráp, môi và móng chân móng tay đều trắng nhợt, hoặc lúc bình thường cơ thể hư nhược, nên lựa chọn ăn loại thức ăn sau:

- Thịt: thịt lợn, chân giò, tim gan lợn, con hàu, thịt ba ba, thịt rùa, lươn, các chép, hải sâm.

- Đường: đường trắng, đường phèn, các loại đường hoa quả.

- Rau: đậu côve, đậu đũa, đậu tằm, đậu phụ, giá đỗ, mọc nhĩ, ngó sen, mướp, rau chân vịt, mộc nhĩ trắng, củ cải, cà rốt, nấm hương, khoai tây, khoai sọ, khoai lang, đậu xanh, đậu đen.

- Hoa quả: nho, táo, cam, đào, dứa, chuối tiêu, hồng.

Với người âm hư hỏa vượng: nếu trong quá trình sinh con, người mẹ ra quá nhiều máu, tinh huyết hao tổn dẫn đến âm hư hỏa vượng, thấy có các triệu chứng chóng mặt ù tai, mặt đỏ, ruột gan nóng, ra mồ hôi trộm, mất ngủ, tiểu rắt, táo bón, hoặc được các thầy thuốc chẩn đoán là âm hư hỏa vượng, ngoài các thức ăn bổ máu như đã nêu ở trên còn có thể lựa chọn các loại thức ăn thanh nhiệt dưới đây:

- Thịt: thịt thỏ, gan thỏ, bồ câu, thịt lợn, thịt vịt.

- Rau: rau dền, rau cần, rau kim châm, bí đao, mướp, dưa chuột, cà chua, mướp đắng, tâm sen, lá sen.

- Hoa quả: lê, dưa hấu, chà là, hồng.

Kết quả hình ảnh cho Sau khi sinh, các mẹ nên ăn gì?

Với người dương khí hư nhược: nếu người mẹ sau khi sinh thấy có các triệu chứng nhức mỏi eo lưng, lạnh bụng và chân tay, lạnh và đau bụng dưới, chóng mặt ù tai, tiểu nhiều trong đêm, hoặc được bác sĩ chẩn đoán là dương khí hư nhược thì nên chọn các loại thức ăn có tính ôn bổ ích khí cường dương dưới đây:

- Thịt: thịt dê, móng dê, sữa dê, thịt hươu, thịt chó, ba ba, rùa, tôm tươi, gan lợn, lươn.

- Đường: đường mía, mật ong, đường cát.

- Rau: hành, hẹ, tỏi, hành tây, đậu vàng, mộc nhĩ, đậu đen, vừng, củ cải, bí đỏ, hồi hương.

Hoa quả: hạch đào, long nhãn, táo ta, vải, mía, quýt, anh đào.